vanban.org

Quyết định 03/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 361; Điều 366, 367, 370, 371, 372, 391, 392 và 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 71 của Bộ luật Dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy…

[2] Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Bùi Văn N về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết”. [3] Tuyên bố ông Bùi Văn T, sinh năm 1943; nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ ấp Ph Nh, xã G T , huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai đã chết, ngày chết tính từ ngày 01/5/1980. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố ông Bùi Văn Tập đã chết"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 361; Điều 366, 367, 370, 371, 372, 391, 392 và 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 71 của Bộ luật Dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2022/QĐST-VDSThống Nhất, ngày 16 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đặng Quang Phúc.

Thư ký phiên họp: Bà Quách Thị Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 134/2021/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2021, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 145/2022/QĐST-VDS ngày 12 tháng 4 năm 2022 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên họp số 05/2022/TB-TA ngày 27/4/2022,gồmnhữngngườithamgia tố tụngsau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Bùi Văn N, sinh năm: 1965; Địa chỉ: ...., ấp Ph Nh , xã G T , huyện Th Nh, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Mai Thị Kh, sinh năm: 1948

2. Ông Bùi Nhật Tr, sinh năm : 1975

Cùng địa chỉ : Ấp Ph Nh , xã G T , huyện Th Nh, tỉnh Đồng Nai.

3. Bà Bùi Thị H, sinh năm: 1968; Địa chỉ: /5, Đinh B L, phường , Thành phố M T, tỉnh Tiền Giang.

4. Bà Bùi Thị Th, sinh năm: 1974; Địa chỉ: ..., ấp P Nh , xã G T, huyện Th Nh, tỉnh Đồng Nai.

(ông N có mặt, bà Kh, ông Tr, bà H, bà T vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

+/ Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sư ngày 23 tháng 4 năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, người yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Bùi Văn N trình bày:

Trước năm 1975 cha ông là ông Bùi Văn T (sinh năm 1943) cư trú tại ấp P N 2, xã G T 3, huyện Th N, tỉnh Đồng Nai) kết hôn với và Mai Thị Kh và có 05 người con gồm ông Bùi Văn N, bà Bùi Thị H, ông Bùi Nhật Tr, bà Bùi Thị Th và ông Bùi Văn H (đã chết). Sau đó ông T đi lính cho chế độ cũ và từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay không thấy về, đến nay đã được hơn 40 năm. Gia đình đã tìm kiếm ông T ở nhiều nơi nhưng vẫn không có kết quả.

Nay ông N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông ông Bùi Văn T, sinh năm: 1943; nơi cư trú cuối cùng tại ấp Ph Nh , xã G T, huyện Th Nh, tỉnh Đồng Nai đã chết. Ngoài ra, ông N không còn yêu cầu nào khác.

+/ Theo bản tự khai đề ngày 14 tháng 02 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị Kh, bà Bùi Thị H, bà Bùi Thị T và ông Bùi Nhật Th thống nhất trình bày:

Bà Kh, bà H, bà T, ông Th thừa nhận phần trình bày của ông N như trên là đúng, ông T là chồng của bà Kh còn bà Th, ông Th, bà H là con của ông T. Từ ngày 30/4/1975 đến nay ông T đã bỏ đi biệt tích khỏi địa phương, gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không có tin tức gì. Bà Kh, bà H, bà Th, ông Th nhất trí với ý kiến trình bày của ông Bùi Văn N và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông N tuyên bố ông Bùi Văn T đã chết.

+/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự, Tòa án thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của đương sự. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Bùi Văn N là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông N tuyên bố ông Bùi Văn T, sinh năm 1943; nơi cư trú cuối cùng tại ấp Ph Nh, xã G T , huyện Th Nh, tỉnh Đồng Nai đã chết. Ngày chết tính từ ngày 01/5/1980. Về việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố đã chết đề nghị không xem xét.

- Về án phí: Ông Bùi Văn N phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Ông Bùi Văn N có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Bùi Văn T đã chết nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ việc này là “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết”.

Về thẩm quyền giải quyết: Người liên quan đến yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Bùi Văn T có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ số Ấp Ph Nh, xã G T, huyện Th Nh, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Về yêu cầu tuyên bố một người đã chết: Trong quá trình giải quyết vụ việc, ông N cho rằng ông T đã biệt tích khỏi địa chỉ nơi cư trú tại ấp Ph Nh, xã G T , huyện Th Nh, tỉnh Đồng Nai từ khoảng tháng 4 năm 1975 đến nay, ông N và các thành viên trong gia đình đã tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không có tin tức gì của T còn sống hay đã chết. Nội dung trên đã được ông Vũ Kim D trưởng ấp Ph Nh và Công an xã Gia Tân , huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xác nhận: “Ông Bùi Văn T trước năm 1975 cư trú tại ấp Ph Nh (nay là ấp Ph Nh, G T , tuy nhiên sau năm 1975 thì ông T biệt tích tại địa phương không có tin tức gì, không biết còn sống hay đã chết”.

Trong quá trình giải quyết việc dân sự, theo yêu cầu của ông N, Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm ông Bùi Văn T theo quy định tại Điều 384, Điều 385 và khoản 2 Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự như: Thông báo tìm kiếm được đăng trên Báo Nhân dân trong 03 số liên tiếp 24148, 24149, 24150 vào các ngày 07, 08, 09/12/2021; Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai; Phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong ba ngày liên tiếp 13, 14, 15/12/2021 đến nay đã quá 04 (bốn) tháng mà vẫn không có tin tức gì của ông T. Do đó, yêu cầu của Bùi Văn N về việc yêu cầu tuyên bố ông Bùi Văn T đã chết là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về xác định ngày chết: Theo lời trình bày của ông N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Kh, bà H, bà Th và ông Th và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ việc dân sự thì ông T bỏ nhà đi biệt tích từ ngày 30/4/1975 và ngày chết của ông T được xác định là ngày 01/5/1980 theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố chết: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của ông Bùi Văn T nên không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết việc dân sự phù hợp với nhận định của Tòa án nên cần chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông N phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát được quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 361; Điều 366, 367, 370, 371, 372, 391, 392 và 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 71 của Bộ luật Dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Bùi Văn N về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết”.

[3] Tuyên bố ông Bùi Văn T, sinh năm 1943; nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ ấp Ph Nh, xã G T , huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai đã chết, ngày chết tính từ ngày 01/5/1980.

[4] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Bùi Văn N phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm ông N đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006702 ngày 13/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất. Ông N đã nộp đủ lệ phí.

[5] Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu ông Bùi Văn N được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kh, ông Tr, bà H, bà Th được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết.

[6] Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ