- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "tuyên bố một người là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trương Ngọc M.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2022/QĐST-VDS | Thanh Bình, ngày 21 tháng 4 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
“V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Minh Trung.
Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Anh Thư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Thông là Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 06/2021/TLST-VDS ngày 16 tháng 11 năm 2021 về “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 04/2022/QĐST-VDS ngày 12 tháng 4 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trương Ngọc M, sinh năm 1972.
Địa chỉ cư trú: Số X, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đ.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn H, sinh năm 1962.
Địa chỉ cư trú: Số X, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu ngày 29 tháng 6 năm 2021, lời trình bày trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, người yêu cầu bà Trương Ngọc M trình bày:
Bà Trương Ngọc M và ông Nguyễn H là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Hòa, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp ngày 03/7/2009. Trong quá trình chung sống giữa bà M và ông H không có con chung.
Đến năm 2012, ông Nguyễn H bỏ nhà đi không rõ tung tích và mất liên lạc cho đến nay. Bà Trương Ngọc M đã thông báo đến địa phương nơi ông Nguyễn H cư trú cuối cùng là Số X, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đ. Công an xã T, huyện T, tỉnh Đ.có văn bản xác nhận ông Nguyễn H đã vắng mặt tại nơi cư trú không còn sinh sống ở địa phương từ ngày 12/8/2012 cho đến nay.
Bà Trương Ngọc M đã nhiều lần tìm kiếm ông Nguyễn H và thực hiện việc đăng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trên báo, đài nhưng không có tin tức gì. Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án và giải quyết việc dân sự như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp trong quá trình giải quyết vụ việc: Kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến nay Thẩm phán, Thư ký phiên họp được phân công thụ lý giải quyết đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 363, 365, 367, 369 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc đã tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ, xác minh theo quy định của pháp luật.
Căn cứ Điều 369, 370 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình chấp nhận yêu cầu của bà Trương Ngọc M. Tuyên bố ông Nguyễn H, sinh năm 1962, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích số X, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đ là đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Trương Ngọc M có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn H. Ông Nguyễn H, sinh năm 1962 có địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại Số X, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đ. Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Về pháp luật nội dung:
2.1. Xét yêu cầu của bà Trương Ngọc M về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn H là đã chết. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do bà M cung cấp và do Tòa án thu thập được cùng với lời trình bày có cơ sở xác định:
Từ ngày 12/8/2012, ông Nguyễn H đã biệt tích, không có tin tức gì. Gia đình không ai biết được ông Nguyễn H đang ở đâu, còn sống hay đã chết.
Theo xác nhận của Công an xã T, huyện T, tỉnh Đ.ngày 11/9/2020: Ông Nguyễn H đã vắng mặt không còn sinh sống ở địa phương từ ngày 12/8/2012 cho đến nay. Bà Trương Ngọc M đã tiến hành thông báo tìm kiếm ông Nguyễn H trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật, cụ thể: Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Tây Nam Bộ VTV9 (các ngày 09, 10 và 11/12/2021); Báo Thanh niên (3 số báo liên tiếp các ngày 09, 10 và 11/12/2021), Cổng Thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp và Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Do đó, yêu cầu của bà Trương Ngọc M tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn H là có căn cứ phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự 2015 nên được chấp nhận.
Căn cứ khoản 1 Điều 68 và khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015 thì ngày chết của ông Nguyễn H được xác định là ngày 13/8/2017.
Theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Dân sự: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.
Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trương Ngọc M phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Trương Ngọc M có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 và khoản 2 Điều 71 và Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trương Ngọc M.
Tuyên bố ông Nguyễn H, sinh năm 1962, nơi cư trú cuối cùng: Số X, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đ là đã chết. Ngày chết của ông Nguyễn H được xác định là ngày 13/8/2017.
2. Về quan hệ nhân thân, tài sản của người đã chết được giải quyết theo quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự 2015.
3. Đương sự có quyền liên hệ với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đ để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Trương Ngọc M phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số số 0001271 ngày 16/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Bà Trương Ngọc M đã nộp xong lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thanh Bình; - Chi cục THADS huyện Thanh Bình; - UBND xã T, huyện T, tỉnh Đ. - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Minh Trung |