- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Lê Xuân T-Lê Thị N1"
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
N N N N
CỘNG
XÃ ỘI C Ủ NG Ĩ VIỆ N M
UYỆN ẦU IẾNG
Độc lập – ự do – ạnh phúc
ỈN
N
NG
Dầu Tiếng, ngày 13 tháng 4 năm 2022 Số:03/2022/QĐST-VDS
QUYẾ ĐỊN
S
ẨM GIẢI QUYẾ VIỆC N SỰ
V/v “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết”
N N N N UYỆN ẦU IẾNG,
ỈN
N
NG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Văn Quang Bảo.
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thảo – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ầu iếng, tỉnh ình ương tham gia phiên họp: Bà Đinh Thị Yến- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 28/2022/TLST-VDS ngày 28/10/2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2022/QĐST-VDS ngày 31 tháng 3 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lê Xuân T, sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Lê Xuân G, sinh năm 1972; hộ khẩu thường trú: Ấp Q, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
+ Ông Lê Văn N, sinh năm 1976; hộ khẩu thường trú: Ấp Q, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt
+ Bà Lê Thị K, sinh năm 1974; hộ khẩu thường trú: Ấp E, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt
+ Bà Lê Thị B, sinh năm 1986; hộ khẩu thường trú: Ấp R, xã T, thị xã Y, tỉnh Bình Phước. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
+ Bà Lê Thị T1, sinh năm 1986; hộ khẩu thường trú: Khu phố U, thị trấn I, huyện C, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Ông Lê Xuân T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Lê Thị N1, sinh năm 1983; nơi cư trú cuối cùng: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương là đã chết.
NỘI UNG VỤ VIỆC N SỰ:
* Theo đơn yêu cầu ngày 14/10/2021 và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu (ông Lê Xuân T) trình bày: Cha mẹ ông T là ông Lê Văn T2 (chết năm 2017) và bà Lê Thị Kh (chết năm 1998) có 07 người con gồm: Lê Xuân G, sinh năm 1972; Lê Thị K, sinh năm 1974; Lê Văn N, sinh năm 1976; Lê Thị N1, sinh năm 1983; Lê Thị B, sinh năm 1986; Lê Thị T1, sinh năm 1986 và Lê Xuân T, sinh năm 1991. Từ năm 1983 đến năm 2005 bà Lê Thị N1 sống cùng với cha mẹ và ông T tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương. Năm 2005 bà N1 bỏ nhà đi cho đến nay. Ông T và gia đình đã tìm kiếm, liên lạc khắp nơi nhưng đến nay vẫn không có tin tức của bà N1. Năm 2018, ông T có làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố bà Lê Thị N1 mất tích và được Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương giải quyết tại Quyết định số 13/2018/QĐDS-ST ngày 13/9/2018 tuyên bố bà Lê Thị N1 mất tích. Sau khi hết thời hạn ba năm kể từ khi tuyên bố mất tích, ông T làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố một người đã chết. Sau khi thụ lý, ngày 16/11/2021 Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết. Thông báo này được đăng trên Báo Thanh Niên, Đài truyền hình Việt Nam, Công thông tin điện tử Tòa án và Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Dương nhưng vẫn không có tin tức của bà Lê Thị N1. Nay gia đình ông T cần làm lại sổ hộ khẩu và một số giao dịch về dân sự nên ông T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng tuyên bố bà Lê Thị N1 đã chết.
* Theo các bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt cùng ngày 18/02/2022, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông G, bà K, ông N, bà B và bà T1) trình bày: Ông G, bà K, ông N, bà B và bà T1 thống nhất hoàn toàn với lời trình bày của ông T về quan hệ nhân thân và thời gian bà Lê Thị N1 bỏ đi là từ năm 2005 cho đến nay không quay về, mặc dù gia đình đã tìm kiếm khắp nơi nhưng cho đến nay không có tin tức gì. Trước yêu cầu của ông Lê Xuân T thì ông G, bà K, ông N, bà B và bà T1 đồng ý tuyên bố bà Lê Thị N1 đã chết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tham gia phiên họp trình bày quan điểm giải quyết việc dân sự:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện đúng quy định.
Về nội dung: Từ những tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời trình bày của người yêu cầu tại phiên họp, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông Lê Xuân T. Đề nghị Tòa án tuyên bố bà Lê Thị N1, sinh năm 1983; nơi cư trú cuối cùng tại: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương đã chết.
N ẬN ĐỊN CỦ
N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Lê Xuân T yêu cầu tuyên bố một người là đã chết thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Lê Thị N1, sinh năm 1983; nơi cư trú cuối cùng: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, đây là yêu cầu hợp lý, đúng pháp luật nên Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt họ theo quy định tại Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Bà Lê Thị N1 đã bỏ đi khỏi nơi cư trú từ năm 2005. Ngày 13/9/2018, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định số 13/2018/QĐDS-ST tuyên bố bà Lê Thị N1 mất tích và cho đến nay đã hơn 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực, vẫn không có tin tức gì của bà N1.
[2.2] Trong quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã thực hiện thủ tục đăng thông báo tìm kiếm bà Lê Thị N1 trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể: Đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án từ ngày 16/11/2021; đăng trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Dương từ ngày 16/11/2021; đăng trên báo Thanh Niên trong 03 số 311 (ngày 25/11/2021), 312 (ngày 26/11/2021) và 313 (ngày 27/11/2021); phát sóng trên Đài truyền hình Việt Nam trong 03 ngày 26, 27 và 28/11/2021. Đến nay đã quá 04 tháng kể từ ngày đăng thông báo tìm kiếm lần đầu, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng vẫn không nhận được tin tức của bà Lê Thị N1.
[2.3] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015 vả Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của ông Lê Xuân T về việc tuyên bố bà Lê Thị N1 đã chết.
[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
[4] Về lệ phí: Ông Lê Xuân T phải chịu toàn bộ tiền lệ phí việc dân sự theo quy định của pháp luật để sung vào ngân sách Nhà nước.
[5] Chi phí đăng tin: Người yêu cầu phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ ĐỊN ;
Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149; khoản 2 Điều 367; Điều 371; Điều 372; Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người đã chết của ông Lê Xuân T đối với bà Lê Thị N1.
Tuyên bố: Bà Lê Thị N1, sinh năm 1983; nơi cư trú cuối cùng: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Dương đã chết kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.
2. Hậu quả pháp lý: Quan hệ về hôn nhân, về nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Lê Xuân T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng lệ phí mà ông T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo biên lai thu số AA/2021/0006844 ngày 20/10/2021.
4. Chi phí đăng tin: Ông Lê Xuân T phải chịu 2.007.000 (hai triệu không trăm không bảy ngàn) đồng. Ông Lê Xuân T đã nộp xong.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có mặt có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định.
Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định./.
ẨM P N
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - CC THA huyện Dầu Tiếng; - UBND xã B, huyện C; - Đương sự; - Lưu HS. | Văn Quang ảo |