vanban.org

Quyết định 03/2022/QĐST-VDS — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Mã Văn N

Tuyên bố: Bà Mã Thị B, sinh năm 1963. Nơi cư trú cuối cùng: Khối 10, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum mất tích từ ngày 24/01/2019 Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Mã Văn N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc yêu cầu tuyên bố một người mất tíc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "TUYEN BO MAT TICH MA THI BANG"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Mã Văn N
  • Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐĂK TÔ
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2022/QĐST-VDSĐăk Tô, ngày 30 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Minh Huy

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Tú

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 18/2022/TLST-VDS ngày 04 tháng 5 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2022/QĐST-DS ngày 26 tháng 9 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Mã Văn N, sinh năm 1963. Nơi

cư trú: Khối 10, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.

- Người liên quan đến yêu cầu: Bà Mã Thị B, sinh năm 1963

Nơi cư trú cuối cùng: Khối 10, thị trấn Đăk Tô huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai, và tại phiên họp ông Mã Văn N trình bày:

Ông và bà Bằng kết hôn với nhau năm 1981, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng có 01 con chung là Mã Thị Huyền sinh năm 1989. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ tôi không chịu làm ăn chân chính, lâm vào nợ nần, làm cuộc sống gia đình bế tắc, vợ chồng mâu thuẫn, làm tôi phải nhiều lần vay mượn để trả nợ. Ngày 24 tháng 01 năm 2019, vợ tôi bỏ nhà đi đến nay tôi không có tin tức gì, gia đình không liên lạc được, không biết đi đâu, làm gì. Tôi đã làm nhiều biện pháp để tìm kiếm trong vòng hơn 03 năm qua nhưng cũng không có tin tức gì của vợ tôi. Đến ngày 29/4/2022 thì ông Ngọc đã nộp hồ sơ yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Mã Thị B mất tích, tiếp tục tìm kiếm bằng cách đăng tin trên Báo Công lý ba số 040, 041, 042 vào các ngày 20, 24, 27/5/2022 và nhắn tìm trên Đài tiếng nói Việt Nam (VOV2) phát vào 17 giờ 30 đến 18 giờ 00 phút các 24,25,26/5/2022, nhưng hết thời hạn thì vẫn không có tin tức gì của bà Bằng.

Nay tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô tuyên bố bà Mã Thị B, sinh năm 1963. Nơi cư trú cuối cùng: Khối 10, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum mất tích từ ngày 24/01/2019, không yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý tài sản của bà Mã Thị B.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của ông Mã Văn N về việc yêu cầu tuyên bố bà Mã Thị B, sinh năm 1963. Nơi cư trú cuối cùng: Khối 10, thị trấn Đăk Tô huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum mất tích từ ngày 24/01/2019. Không áp dụng biện pháp quản lý tài sản.

Về lệ phí: ông Mã Văn N phải chịu lệ phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô nhận định:

Về quyền yêu cầu và thẩm quyền Tòa án giải quyết:

Ông Mã Văn N và bà Mã Thị B có quan hệ là vợ chồng theo xác nhận ngày 18/02/2019 của UBND xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa nên ông Ngọc có quyền yêu cầu tuyên bố bà Bằng mất tích là đúng quy định tại khoản 1 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự. Cả hai có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối 10, thị trấn Đăk Tô huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum nên Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum thụ lý việc dân sự là đúng quy định tại khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu:

Căn cứ vào đơn yêu cầu, lời khai của đương sự, xác nhận của Công an thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô và Công an xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn thì có cơ sở xác định bà Mã Thị B có nơi cư trú cuối cùng: Khối 10, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum bỏ nhà đi khỏi địa phương từ ngày 24/01/2019 đến nay, không liên lạc với gia đình, không biết hiện nay làm gì, ở đâu. Ông Ngọc đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng không có kết quả. Sau khi Tòa án thụ lý vụ việc, đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 02/2022/QĐ-TA ngày 12/5/2022 được đăng trên Báo Công lý các số 040, 041, 042 vào các ngày 20, 24, 27/5/2022 và nhắn tìm trên đài tiếng nói Việt Nam (VOV2) phát vào 17 giờ 30 đến 18 giờ 00 phút các 24, 25, 26/5/2022. Tuy nhiên hết thời hạn theo luật định nhưng vẫn không có tin tức gì của bà Mã Thị B.

Như vậy có đủ căn cứ xác định bà Mã Thị B, sinh năm 1963. Nơi cư trú cuối cùng: Khối 10, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, mất tích từ ngày 24/01/2019, cần chấp nhận yêu cầu của ông Mã Văn N.

Về quyền quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về lệ phí: Ông Mã Văn N phải chịu lệ phí theo quy định.

Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là có căn cứ nên cần chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 68 Bộ luật Dân sự; các Điều 370, 371, 372, 387, 388, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Mã Văn N

Tuyên bố: Bà Mã Thị B, sinh năm 1963. Nơi cư trú cuối cùng: Khối 10, thị trấn Đăk Tô, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum mất tích từ ngày 24/01/2019

2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Mã Văn N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đã nộp theo biên lai thu án phí, lệ phí số 0002444 ngày 29/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. (Ông Ngọc đã nộp đủ).

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ