vanban.org

Quyết định 03/2022/QĐST-VDS — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đức P về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”.

Xác định cháu Nguyễn Đỗ Khánh A là con ruột của anh Nguyễn Đức P Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Đức P phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ hết vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000636 ngày 23/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "YÊU CẦU XÁC NHẬN CHA CHO CON"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đức P về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2022/QĐST-VDSThủ Dầu Một, ngày 28 tháng 4 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu xác định cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lại Thị Ngọc Liên

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Hồng Vân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 23/2021/TLST-VDS ngày 01 tháng 12 năm 2021, về việc: Yêu cầu xác định cha cho con, theo quyết định mở phiên họp số: 02/2022/QĐ-MPH ngày 13 tháng 4 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Đức P, sinh năm 1988; địa chỉ: Số 272/25/8A đường Lê Hồng P, tổ 9, khu 8, phường H, thành phố M, tỉnh B. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Cháu Nguyễn Đỗ Khánh A, sinh ngày 18/11/2019. Người đại diện hợp pháp của cháu A: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1987; địa chỉ: Số 273/25/8A, đường Lê Hồng P, tổ 9, khu 8, phường H, thành phố M, tỉnh B. Có mặt.

2/ Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1987; địa chỉ: Số 273/25/8A, đường Lê Hồng P, tổ 9, khu 8, phường H, thành phố M, tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu đề ngày 10 tháng 11 năm 2021, quá trình tố tụng và tại phiên họp anh Nguyễn Đức P trình bày:

Năm 2019, anh P quen biết và có tình cảm với chị T, sau đó anh Phương và chị T có con chung với nhau là cháu Nguyễn Đỗ Khánh A, sinh ngày 18/11/2019. Tuy nhiên, lúc này chị T chưa hoàn tất thủ tục ly hôn với chồng là Nguyễn Văn X nên anh P và chị T không làm giấy khai sinh cho cháu A, đến nay cháu A vẫn chưa có giấy khai sinh.

Hiện nay do cần làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu Nguyễn Đỗ Khánh A nên cần phải xác định mối quan hệ cha con giữa anh P và cháu A. Tại kết luận giám định số 1231/KL-KTHS ngày 29/3/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố M kết luận anh Nguyễn Đức P và cháu Nguyễn Đỗ Khánh A có quan hệ huyết thống cha - con. Do vậy, anh Nguyễn Đức P yêu cầu Tòa án giải quyết xác định cháu Nguyễn Đỗ Khánh A, sinh ngày 18/11/2019 là con ruột của anh Nguyễn Đức P.

* Tại bản tự khai ngày 17/02/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị T trình bày:

Anh Nguyễn Đức P và chị Đỗ Thị T là cha mẹ ruột của cháu Nguyễn Đỗ Khánh A. Năm 2019, anh P quen biết và có tình cảm với chị T, sau đó anh P và chị T có con chung với nhau là cháu Nguyễn Đỗ Khánh A, sinh ngày 18/11/2019. Tuy nhiên, lúc này chị T chưa hoàn tất thủ tục ly hôn với chồng là Nguyễn Văn X nên anh P và chị T không làm giấy khai sinh cho cháu A, đến nay cháu A vẫn chưa có giấy khai sinh. Nay trước yêu cầu của anh P thì chị T đồng ý và thống nhất xác định anh Nguyễn Đức P là cha ruột của cháu Nguyễn Đỗ Khánh A.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Đỗ Khánh A là chị Đỗ Thị T trình bày: Thống nhất phần trình bày và ý kiến của anh P.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên họp:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 366, 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Đức P và chị Đỗ Thị T đã chấp hành đúng các quy định tại các Điều 367 và Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm.

Về nội dung: Căn cứ vào kết luận giám định số 1231/KL-KTHS ngày 29/3/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố M đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đức P về việc yêu cầu Tòa án giải quyết xác định cháu Nguyễn Đỗ Khánh A, sinh ngày 18/11/2019 là con ruột của anh Nguyễn Đức P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố M nhận định:

Về tố tụng: Quá trình giải thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các Điều 366, 369 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Đức P và chị Đỗ Thị T đã chấp hành đúng các quy định tại các Điều 367 và Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án tiến hành mở phiên họp xét đơn yêu cầu của anh P theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Năm 2019, anh P quen biết và có tình cảm với chị T, sau đó anh P và chị T có con chung với nhau là cháu Nguyễn Đỗ Khánh A, sinh ngày 18/11/2019. Tuy nhiên, lúc này chị T chưa hoàn tất thủ tục ly hôn với chồng là Nguyễn Văn X nên anh P và chị T không làm giấy khai sinh cho cháu A, đến nay cháu A vẫn chưa có giấy khai sinh. Hiện nay do cần làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu A nên cần phải xác định mối quan hệ cha con giữa anh Phương và cháu A.

Ngày 17/01/2022, anh Nguyễn Đức P có đơn yêu cầu Toà án giám định AND. Cùng ngày 17/01/2022, anh P và cháu A đã thực hiện thủ tục lấy mẫu xét nghiệm ADN. Tại bản tự khai ngày 17/01/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị T thống nhất yêu cầu của anh P. Xét thấy, tại kết luận giám định số 1231/KL-KTHS ngày 29/3/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố M kết luận anh Nguyễn Đức P và cháu Nguyễn Đỗ Khánh A có quan hệ huyết thống cha - con. Do vậy, căn cứ vào lời trình bày của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và kết luận giám định nêu trên, có đủ cơ sở để Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Phương về việc xác định cháu Nguyễn Đỗ Khánh A là con ruột của anh Nguyễn Đức P theo quy định tại các Điều 91, 101, 102 của Luật hôn nhân và gia đình.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về tố tụng và quan điểm về giải quyết việc dân sự là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Đức P phải nộp theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 91, 101, 102 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 48, khoản 2 Điều 92, các Điều 149, 361, 366, 369, 370, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đức P về việc “Yêu cầu xác định cha cho con”.

Xác định cháu Nguyễn Đỗ Khánh A là con ruột của anh Nguyễn Đức P

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Đức P phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ hết vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000636 ngày 23/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M.

3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ