- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Đăng Q;
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2022/QĐST- DS | T, ngày 27 tháng 6 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Lê Thị Na Na
Thư ký phiên họp: Bà Võ Thị Ngọc Thanh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thu Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tmở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 04/2022/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2022 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 38/2022/QĐST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ông Trần Đăng Q, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Thôn Điện An 01, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn, Ông Trần Đăng Q trình bày như sau:
Ông Trần Đăng Q với bà Phạm Thị Hồng T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn năm 1994, hiện nay bà Phạm Thị Hồng T đang sống cùng với ông Q tại gia đình. Sau khi nghỉ hưu theo chế độ năm 2018 bà Phạm Thị Hồng T có dấu hiệu suy giảm trí nhớ, lúc nhớ, lúc quên. Vì vậy, Ông Q đã đưa bà đi khám bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế.
Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 529/KLGĐYC ngày 05/5/2022 kết luận: Thời điểm hiện tại, về y học: “Mất trí trong bệnh Alzheimer, khởi phát sớm (F00.0). Về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự”. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của bà Phạm Thị Hồng T. Nay ông Trần Đăng Q có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ttuyên bố bà Phạm Thị Hồng T mất năng lực hành vi dân sự.
Tại biên bản xác minh ngày 10/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, người đại diện theo pháp luật của UBND xã N đã trình bày như sau:
Bà Phạm Thị Hồng T là vợ ông Trần Đăng Q, bà T sống cùng ông Q, hiện nay bà T không làm chủ được bản thân, tinh thần không minh mẫn, lúc nhớ lúc quên, cuộc sống hiện giờ phụ thuộc vào ông Q là chính. Việc ông Trần Đăng Q yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ttuyên bố bà Phạm Thị Hồng T là người mất năng lực hành vi dân sự là đúng thực tế.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tchấp nhận đơn yêu cầu của ông Trần Đăng Q về việc yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ttuyên bố bà Phạm Thị Hồng T là người mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân huyện Tnhận định:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Yêu cầu về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 1 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự cư trú tại xã N, huyện T nên căn cứ khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đơn yêu cầu đề ngày 18 tháng 5 năm 2022, bản tự khai của người yêu cầu ông Trần Đăng Q khai:
Vợ của ông là bà Phạm Thị Hồng T, sinh năm 1967 bị mất trí trong bệnh Alzheimer, khởi phát sớm (F00.0). Về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự, nên không có khả năng ra Tòa tự khai và tham gia tố tụng tại Tòa án. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Phạm Thị Hồng T mất năng lực hành vi dân sự.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về mất năng lực hành vi dân sự như sau: “1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần...”.
Đối chiếu tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 529/KLGĐYC ngày 05/5/2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung kết luận: Thời điểm hiện tại, về y học: “Mất trí trong bệnh Alzheimer, khởi phát sớm (F00.0). Về năng lực hành vi dân sự: Mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự”. Như vậy, yêu cầu của ông Trần Đăng Q về việc yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ttuyên bố bà Phạm Thị Hồng T mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Ông Trần Đăng Q là người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tđề nghị là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 149, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015. Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Đăng Q;
Tuyên bố bà Phạm Thị Hồng T, sinh năm 1967; Địa chỉ: xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi mất năng lực hành vi dân sự.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trần Đăng Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền lệ phí giải quyết việc dân sự, số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng do ông Q đã nộp theo Biên lai thu số 0002137 ngày 03 tháng 6 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
- Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Tcó quyền kháng nghị Quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện T; - Người yêu cầu; - Chi cục THADS huyện T; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN (Đã ký) Lê Thị Na Na |