vanban.org

Quyết định 03/2022/DSST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 24/10/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị M: Tuyên bố chị Bùi Thị V, sinh năm 1985; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú/Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã chết.

Khi quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của chị Bùi Thị V được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của chị Bùi Thị V được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: chị Bùi Thị M phải nộp 300.000 đồng lệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị M: Tuyên bố chị Bùi Thị V, sinh năm 1985; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú/Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THUỶ
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2022/QĐST-VDSYên Thuỷ, ngày 24 tháng 10 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Lan

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Bình - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy tham gia phiên họp: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2022/TLST-VDS ngày 29/4/2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số 03/2022/QĐPH-VDS ngày 14 tháng 10 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: chị Bùi Thị M, sinh năm 1982, địa chỉ: xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình (có mặt).

- Người bị yêu cầu: chị Bùi Thị V, sinh năm: 1985; ĐKHKTT/Nơi cư trú cuối cùng: xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, là em gái của chị Bùi Thị M (Vắng mặt do biệt tích khỏi địa phương).

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/Chị Bùi Thị Ph, sinh năm 1980; địa chỉ: khu 9, thị trấn Chi Nê, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt).

2/Anh Bùi Văn A, sinh năm 1999; địa chỉ: xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai chị Bùi Thị M trình bày: Bố đẻ chị Bùi Văn M (chết năm 1994) và mẹ đẻ Bùi Thị R (chết năm 2005). Trong quá trình chung sống thì bố mẹ đẻ chị sinh được 05 người con gồm: Chị Bùi Thị Q, sinh năm 1975 (chết năm 2015), trước khi chết hộ khẩu: Xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình (chưa lấy chồng, không có con đẻ, con nuôi); Chị Bùi Thị Ph, sinh năm 1980, Hộ khẩu: khu 9 thị trấn Chi Nê, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình và tôi Bùi Thị M, sinh năm 1982, hộ khẩu: Xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình; em gái Bùi Thị V, sinh năm 1985, hộ khẩu: Xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và em trai Bùi Văn A, sinh năm 1999, hộ khẩu: Xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

Ngày 28 tháng 8 năm 2006 bố mẹ tôi ông Mỗm và bà Rợ chết, em gái tôi Bùi Thị V có gặp tôi (M) nói ở nhà không có việc gì làm nên em đi kiếm việc làm, tôi (M) có hỏi đi làm ở đâu và cùng ai, thì V nói đi làm ở đâu chưa biết, lúc nào kiếm được việc thì em sẽ thông tin cho chị biết và V nói đi cùng với bạn trai, tôi và các chị em cũng không biết bạn trai đi cùng với em V ở đâu và tên là gì. Sau khi em V đi được thời gian khoảng 03 tháng gia đình chị em tôi không thấy có tin tức gì về chị V. Sau đó chị em có tìm đến những người quen biết của chị V và hỏi thăm nhưng không ai biết, không gặp chị V, chị em cũng chia nhau đi tìm kiếm chị V rất nhiều nơi nhưng không thấy tin tức gì về chị V. Khi chị em đi tìm kiếm không lưu trữ được những tài liệu liên quan đến việc tìm kiếm chị V. Vì vậy, hiện tại gia đình không lưu giữ gì được các giấy tờ về việc đi tìm kiếm chị Bùi Thị V. Nay chị Bùi Thị V đi biệt tích khỏi địa phương đến nay đã trên 15 năm, gia đình không có tin tức xác thực chị V còn sống hay đã chết, trước khi đi chị V chưa có chồng, con đẻ, con nuôi. Từ khi Tòa án thụ lý việc dân sự cho đến khi Tòa án ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố đã chết số 01/2022/QĐST-DS ngày 19/5/2022 và ban hành các công văn số 01; 02; 03 cùng ngày 07 tháng 6 năm 2022 về việc tìm kiếm đối với chị Bùi Thị V trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể: Đăng trên Báo công lý các số 47, 48+49, 50 ra các ngày 14/6/2022, ngày 17/6/2022 và ngày 24/6/2022; phát trên Đài tiếng nói Việt Nam vào 17 giờ 30 phút các ngày 17, 18, 19/6/2022; đăng tin trên Ban biên tập cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao cho đến nay chị M và chị em trong gia đình vẫn không có tin tin tức gì của chị Bùi Thị V. Nay chị Bùi Thị M đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình giải quyết việc dân sự tuyên bố một người là đã chết đối với chị Bùi Thị V.

- Tại Biên bản xác minh ngày 05/7/2022 Trưởng xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu và Công an xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy đều cung cấp: chị Bùi Thị M là em gái của chị Bùi Thị V, hiện chị V có hộ khẩu thường trú tại xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, trước khi biệt tích chị V có nơi cư trú cuối cùng tại xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu. Chị V đã bỏ đi biệt tích khỏi địa phương từ ngày 28/8/2006 cho đến nay không có thông tin, tin tức gì về cho địa phương. Hiện địa phương cũng không biết chị Bùi Thị V hiện đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị Ph và anh Bùi Văn A vắng mặt tại phiên họp, tại bản tự khai trình bày: chị Ph và anh A là chị gái và em trai của chị Bùi Thị V đã khai việc chị Bùi Thị V biệt tích khỏi địa phương từ ngày 28/8/2006 đúng như đơn của chị Bùi Thị M đã đề nghị, nay chị Ph và anh A không có tin tức xác thực gì về chị V còn sống hay đã chết. Nay chị Bùi Thị M có làm đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người là đã chết đối với chị Bùi Thị V thì chị Ph và anh A cũng hoàn toàn nhất trí. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xem xét giải quyết theo qui định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ việc và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký, người yêu cầu đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 khoản 2 Điều 367; các Điều 369, 370, 391, 392, 393; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; các Điều 71, 72 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị M, tuyên bố chị Bùi Thị V đã chết. Ngày chết của chị Bùi Thị V được xác định là ngày 29/8/2011.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Xét chị Bùi Thị V đã bỏ đi khỏi địa phương từ ngày 28/8/2006 đến nay không có tin tức. Nay chị Bùi Thị M (chị gái chị V) làm đơn yêu cầu là có cơ sở xác định đây là yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Người bị yêu cầu tuyên bố đã chết có nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích tại xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình nên Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình có thẩm quyền giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về tư cách tham gia tố tụng:

Xét thấy trong giấy khai sinh có cơ sở xác định chị Bùi Thị M và chị Bùi Thị V có quan hệ chị em ruột. Do đó chị Bùi Thị M có đủ tư cách yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố chị Bùi Thị V, sinh năm 1985 là đã chết nên chị M được xác định là người yêu cầu.

Xét yêu cầu của chị Bùi Thị M thì thấy: Chị Bùi Thị V bỏ đi biệt tích từ ngày 28/8/2006, chị Bùi Thị M và gia đình đã đi tìm nhưng không ai biết tin tức gì của chị V. Sau khi thụ lý việc dân sự Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố đã chết số 01/2022/QĐST-DS ngày 19/5/2022 và ban hành các công văn số 01; 02; 03 cùng ngày 07 tháng 6 năm 2022 về việc tìm kiếm đối với chị Bùi Thị V trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể: Đăng trên Báo công lý các số 47, 48+49, 50 ra các ngày 14/6/2022, ngày 17/6/2022 và ngày 24/6/2022; phát trên Đài tiếng nói Việt Nam vào 17 giờ 30 phút các ngày 17, 18, 19/6/2022; đăng tin trên Ban biên tập cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao.

Nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên là ngày 14/6/2022 và tính từ thời gian chị Bùi Thị V bỏ đi biệt tích từ ngày 28/8/2006 đến nay đã trên 05 năm mà chị V vẫn không có mặt tại gia đình và địa phương, không có tin tức xác thực về việc chị V hiện còn sống hay đã chết do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị M, tuyên bố chị Bùi Thị V đã chết là phù hợp với quy định tại Điều 71 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Do đó quan hệ về nhân thân và quan hệ về tài sản của chị Bùi Thị V được giải quyết theo quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự.

Về thời điểm chết của chị Bùi Thị V: Do được xác định ngày có tin tức cuối cùng của chị V ngày 28/8/2006, căn cứ theo quy định tại Điều 71 Bộ luật Dân sự do vậy ngày chết của chị Bùi Thị V là ngày 29/8/2011.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 khoản 2 Điều 367, các Điều 369, 370, 371, 372, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 71, 72 Bộ luật Dân sự; Điều 35 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị M: Tuyên bố chị Bùi Thị V, sinh năm 1985; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú/Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: xóm Bãi Đa, xã Bảo Hiệu, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã chết. Thời điểm chết của chị Bùi Thị V được xác định là ngày 29/8/2011

Khi quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của chị Bùi Thị V được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của chị Bùi Thị V được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: chị Bùi Thị M phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp trước 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002268 ngày 29/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thủy. Chị M đã nộp đủ lệ phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu chị Bùi Thị M có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định này.

Người bị yêu cầu chị Bùi Thị V có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày niêm yết quyết định này tại nơi cư trú cuối cùng của chị Bùi Thị V.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị Ph, anh Bùi Văn Anh vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc kể từ ngày quyết định này được niêm yết tại nơi cư trú.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định này.

Cỡ chữ