vanban.org

Quyết định 03/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà H’ A.

Tuyên bố: Ông Y T, sinh năm 1978, nơi cư trú cuối cùng: Buôn E, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là đã chết. Ngày chết của ông Y T được xác định là ngày 02/01/2001. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà H’ A.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2021/QĐST-VDSKrông Pắc, ngày 30 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Tuyên bố một người đã chết.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên họp: Ông Chu Anh Hùng.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhị - Thư ký Toà án nhân dân huyện Krông Pắc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thùy Nguyên – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pắc mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 09/2021/TLST-VDS ngày 02/7/2021, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 11/2021/QĐST-VDS ngày 22/11/2021 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà H’ A, sinh năm 1988 - Có mặt.

Địa chỉ: Buôn E, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Y T, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Buôn E, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bà H B, sinh năm 1951 - Có mặt.

Địa chỉ: Buôn E, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

3. Bà H C, sinh năm 1974 - Có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: Buôn E, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người phiên dịch tiếng Ê đê: H’N - Có mặt

Địa chỉ: Số 02 Y N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người đã chết của bà H’ A trình bày như sau:

Cha tôi là ông Y T qua đời năm 2018. Cha tôi có đề lại một tài sản là quyền sử dụng đất thổ cư theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G-940747, do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 26/6/1996 vào sổ cấp giấy chứng nhận số 106143 QSDĐ/CH2, diện tích 3050 m2. Tôi, mẹ tôi, chị gái tôi và anh trai tôi Y T là những người đồng thừa kế. Ngoài ra không còn người thừa kế nào khác.

Tuy nhiên, anh trai tôi Y T, sinh năm 1978 đã bỏ nhà đi từ năm 1998 đến nay đã hơn 20 năm, không rõ tung tích, gia đình không liên lạc được, cho dù đã cố gắng tìm kiếm khắp nơi, thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì.

Vậy, tôi làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố anh trai tôi ông Y T, sinh năm 1978 đã chết.

Lý do, mục đích yêu cầu Tòa án giải quyết: Để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các giấy tờ khác theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà H B và bà H C cùng trình bày: Ông Y T là con trai của bà H B và là em trai của bà H C. Ông Y T đã bỏ nhà đi từ năm 1998 đến nay (hơn 20 năm) không rõ tung tích. Gia đình không liên lạc được và cũng không có tin tức gì, cho dù đã cố gắng tìm kiếm khắp nơi, thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nay bà H’ A làm đơn đề nghị Tòa tuyên bố ông Y T đã chết, thì bà H B và bà H C cùng quan điểm với bà H’ A, đề nghị Tòa án tuyên bố ông Y T đã chết, ngoài ra bà H B và bà H C không có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc phát biểu ý kiến: Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự, lời khai của người yêu cầu giải quyết việc dân sự, có cơ sở xác định ông Y T, sinh năm 1978 có nơi cư trú cuối cùng: Buôn E, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đã bỏ nhà đi từ 1998 đến nay không có tin tức gì, khi đi ông Y T đi không báo cho chính quyền địa phương biết, nên gia đình và địa phương không biết hiện nay ông Y T đang ở đâu, làm gì. Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc cũng đã làm thủ tục tìm kiếm theo quy định của pháp luật, nhưng đến nay vẫn không có tin tức của ông Y T. Vì vậy, căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 391, Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 68, Điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015.

Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tuyên bố ông Y T đã chết theo yêu cầu của bà H’ A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Toà án nhân dân huyện Krông Pắc nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu tuyên bố ông Y T đã chết của bà H’ A: Ông Y T đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 1998 đến nay. Khi đi ông Y T không báo cho gia đình và chính quyền địa phương biết nên gia đình và địa phương không biết hiện nay ông Y T đang ở đâu, làm gì. Gia đình ông Y T đã nhiều lần tìm kiếm nhưng vẫn không có thông tin gì về ông Y T. Để chứng minh cho đơn yêu cầu của mình bà H’ A cung cấp tài liệu chứng cứ là ngày 07/6/2021 Ban tự quản buôn Ea Kmăt, xã Hòa Đông, huyện Krông Pắc xác nhận ông Y T đã bỏ nhà đi từ năm 1998 cho đến nay, được Ủy ban nhân dân xã Hòa Đông xác nhận và Công an xã Hòa Đông cũng xác nhận ông Y T bỏ nhà đi từ năm 1998, hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì thì không khai báo với chính quyền địa phương.

Sau khi thụ lý vụ việc, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đã đăng thông báo tìm kiếm ông Y T trên Đài tiếng nói Việt Nam khu vực Tây Nguyên ba lần vào các ngày 20; 21; 22/7/2021, trên Báo công lý qua 03 số báo 58, 59, 60 ra các ngày 21, 23, 28/7/2021 và trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhưng không có tin tức gì về ông Y T.

Qua quá trình xác minh, chính quyền địa phương cho biết ông Y T đã bỏ nhà đi từ năm 1998, không có liên hệ gì với chính quyền địa phương. Từ ngày Tòa án đăng thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của ông Y T. Hiện chính quyền địa phương không biết ông Y T đang ở đâu.

Xét thấy hiện nay không có tin tức gì xác thực là ông Y T còn sống, nên việc bà H’ A đề nghị Tòa án tuyên ông Y T đã chết là phù hợp với quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015 cần được chấp nhận.

Xác định thời điểm ông Y T chết: Ông Y T thuộc trường hợp biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin xác thực là còn sống theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015. Qua quá trình xác minh tại địa phương đều không xác định được thời gian cụ thể ông Y T bỏ đi, theo đơn xin xác nhận của bà H’ A tại Công an xã H, huyện K và Ban tự quản buôn E, xã H, huyện K đều thể hiện ông Y T bỏ đi khỏi địa phương năm 1998. Vì vậy, xác định tin tức cuối cùng của ông Y T là ngày 01/01/1999 và trong thời hạn 02 năm kể từ ngày 01/01/1999 mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống thì thời điểm chết được xác định là ngày kế tiếp sau hai năm kể từ ngày xác định tin tức cuối cùng của ông Y T. Do đó, Tòa án xác định ngày chết của ông Y T là ngày 02/01/2001.

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Y T là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Y T được giải quyết như đối với người đã chết; Quan hệ tài sản của ông Y T được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của ông Y T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí: Bà H’ A phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

Về chi phí đăng thông báo, nhắn tin tìm kiếm ông Y T, thì bà H’ A phải chịu.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391, Điều 392, Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 68, Điểm d khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà H’ A.

Tuyên bố: Ông Y T, sinh năm 1978, nơi cư trú cuối cùng: Buôn E, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là đã chết.

Ngày chết của ông Y T được xác định là ngày 02/01/2001.

2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người chết: Khi quyết định của Tòa án tuyên bố ông Y T là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Y T được giải quyết như đối với người đã chết; Quan hệ tài sản của ông Y T được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của ông Y T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Bà H’ A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà ông Nguyễn Anh Tuấn nộp thay theo biên lai số 60AA/2021/0006435 ngày 02 tháng 7 năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc.

Bà H’ A phải chịu 3.025.000 đồng (Ba triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố đã chết trên phương tiện thông tin đại chúng. Được khấu trừ vào số tiền 3.025.000 đồng (Ba triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) đã nộp tại Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

4. Đương sự có kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ