- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết- Người yêu cầu Hoàng Thị N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của chị Hoàng Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2021/QĐST-VDS | Bố Trạch, ngày 12 tháng 10 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Trung Thành
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhạn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên họp: Ông Phan Mạnh Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2021/TLST-VDS ngày 07 tháng 5 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 04/2021/QĐST- VDS ngày 04 tháng 10 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Chị Hoàng Thị N, sinh năm: 1974; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Quảng Bình. Có mặt
- Người bị yêu cầu: Anh Lê Hồng V, sinh ngày 15/8/1975; nơi ĐKHKTT cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Quảng Bình.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Gồm mẹ đẻ, các anh chị em ruột, con đẻ của anh Lê Hồng V).
+ Bà Trương Thị V, sinh năm 1947; nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường Y, TP. Z, tỉnh Quảng Bình.
+ Chị Lê Thị Hoài V, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường Y, TP. Z, tỉnh Quảng Bình.
+ Chị Lê Thị Hoài N, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện C, tỉnh Quảng Bình.
+ Anh Lê Anh T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường Y, TP. Z, tỉnh Quảng Bình.
+ Anh Lê Hoàng T, sinh năm 2003; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Quảng Bình.
Tất cả những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên họp và đã có văn bản ủy quyền vào ngày 21/4/2021 cho chị Hoàng Thị N tham gia tố tụng tại Tòa án.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Tại đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đề ngày 05/5/2021, bản tự khai và quá trình giải quyết chị Hoàng Thị N trình bày:
Chị và anh Lê Hồng V, sinh ngày 15/8/1975, quê quán và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Quảng Bình đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Quảng Bình vào ngày 26/3/2002 và sinh được một con chung Lê Hoàng T, sinh ngày 08/3/2003. Sau khi kết hôn, do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, cho nên ngày 20/01/2007 anh V bàn bạc với gia đình rồi đi vào Miền Nam làm ăn. Tuy nhiên, từ lúc đó cho đến nay anh V không thông báo cho vợ và người thân trong gia đình đi đâu, làm gì và cũng không liên lạc gì với gia đình. Vì vậy, chị và người thân trong gia đình đã nhiều năm cố gắng tìm kiếm thông tin về anh V nhiều nơi nhưng không có kết quả. Hiện tại, chị và người thân của anh V đều không biết anh đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Do đó, chị có đơn yêu cầu tuyên bố anh Lê Hồng V là đã chết theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/4/2021 mẹ đẻ, các, anh chị em ruột, con đẻ anh Lê Hồng V có văn bản ủy quyền cho chị Nhân tham gia tố tụng và đều thống nhất ý kiến với các nội dung tại đơn yêu cầu mà chị N đã trình bày. Ngày 05/5/2021 Ủy ban nhân dân xã B và ngày 18/8/2021 Công an xã B đều có xác nhận bằng văn bản với nội dung: Anh Lê Hồng V, sinh ngày 15/8/1975 trước đây có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã B đã đi khỏi địa phương từ ngày 20/01/2007 cho đến nay.
Trên cơ sở lời khai của người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan; xác nhận của chính quyền địa phương và Công an xã nơi anh V cư trú; ngày 26/5/2021 Tòa án đã ban hành Quyết định số: 01/2021/QĐ-TB về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với anh Lê Hồng V theo quy định của pháp luật, cụ thể: Thông báo trên Báo Công Lý trong ba số báo liên tiếp 45, 46, 47 trong các ngày 04, 08, 11 tháng 6/2021; Thông báo trên đài tiếng nói Việt Nam trên kênh VOV2 vào lúc 17 giờ 30 phút trong các ngày 4,5,6 tháng 6/2021 và thông báo trên Công thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình vào ngày 01/6/2021. Tuy nhiên, kể từ ngày đăng phát thông báo tìm kiếm cho đến nay đã hơn 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức gì về anh V.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch áp dụng khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 và các Điều 149, 371, 372, 367, 369, 370, 391, 393 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 và Điều 72 Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2006/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của chị N, tuyên bố anh Lê Hồng V là đã chết kể từ ngày 20/01/2007. Đối với các vấn đề liên quan khác như: Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của anh Lê Hồng V được giải quyết như người đã chết; quan hệ tài sản của anh Lê Hồng V được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế và buộc chị N phải chịu nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự để sung công quỹ Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nhận định:
Xét lời khai của chị Hoàng Thị N về thời gian biệt tích và thông tin hiện nay của anh Lê Hồng V hoàn toàn phù hợp với nội dung xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã B; Công an xã B và lời khai của người thân trong gia đình anh V cũng như kết quả thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng. Do đó có đủ cơ sở xác định anh Lê Hồng V đã biệt tích kể từ ngày 20/7/2007 cho đến nay. Từ khi anh V biệt tích, chị N và gia đình nhiều lần cố gắng liên lạc để tìm kiếm về thông tin của anh V cũng như đã áp dụng các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng đều không có thông tin xác thực anh V hiện tại đang ở đâu, làm gì hoặc còn sống, hay đã chết.
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 BLDS năm 2015 quy định: “Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp người bị yêu cầu biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực còn sống...”. Như vậy, kể từ ngày 20/01/2007 là ngày có thông tin cuối cùng về anh V còn sống tính đến nay đã quá 05 năm nhưng không có tin tức gì. Do đó, chị N đã thực hiện việc thông báo nhắn tin tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng đã quá thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhắn tin tìm kiếm được đăng tải lần đầu cho đến nay vẫn không có tin tức gì của anh V. Vì vậy, chị Hoàng Thị N yêu cầu tuyên bố anh Lê Hồng V đã chết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên cần được chấp nhận.
Quan hệ về hôn nhân, gia đình, tài sản và các quan hệ nhân thân khác của anh Lê Hồng V được giải quyết như đối với người đã chết.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự phải chịu nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.
Người yêu cầu và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 và các Điều 149, 371, 372, 367, 369, 370, 391, 393 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2006/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của chị Hoàng Thị N.
Tuyên bố anh Lê Hồng V, sinh ngày 15/8/1975; số CMND: xxxxxxxxx, ngày cấp: 10/5/2006, nơi cấp: Công an tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Quảng Bình là đã chết, kể từ ngày 20/01/2007.
Quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của anh Lê Hồng V được giải quyết như người đã chết; quan hệ tài sản của anh Lê Hồng V được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Thị N phải chịu nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2020/0000621, ngày 07/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đương sự đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND Quảng Bình; - VKSND huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - Người yêu cầu; NCQLNVLQ; - UBND xã B, huyện C; - Lưu: HSVDS, Lưu TA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Trần Trung Thành |