vanban.org

Quyết định 03/2021/QĐST-VDS — Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Tính đến ngày 17/8/2021, chị Lê Thị H có trách nhiệm thanh toán cho chị Nguyễn Thị T số tiền phạt cọc là 10.000.000đ. Chị T được nhận 10.000.000đ tiền phạt cọc do chị H giao lại. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "THANH HÀ"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 328 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2021/QĐST-VDSQuảng Xương, ngày 01 tháng 9 năm 2021.

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA

Căn cứ hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số 13/2021/TLST-DS ngày 17 tháng 8 năm 2021 về việc “Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án” của những người yêu cầu:

1.Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982 Địa chỉ: SN 38/54 đường Đ, phường L, thành phố T.

2. Chị Lê Thị H, sinh năm 1978 Địa chỉ: Thôn 1, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG HÒA GIẢI THÀNH

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là việc dân sự về yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

[2] Về nội dung yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án:

- Tại biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17/8/2021, các bên đương sự tham gia hòa giải thỏa thuận: Ngày 17/6/2021 chị Nguyễn Thị T có đặt cọc cho chị Lê Thị H để mua thửa đất 518-4, tờ bản đồ số 5. Địa chỉ thửa đất tại xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa với số tiền là 100.000.000đ. Hai bên thỏa thuận đến ngày 17/7/2021 chị T sẽ thanh toán đủ số tiền còn lại và hai bên sẽ làm thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật.

Quá trình nhận cọc, anh Trần Văn T (chồng chị H) không biết và không đồng ý bán thửa đất trên cho chị T; Do vậy, chị H đã trả lại tiền đặt cọc 100.000.000đ cho chị T.

Các bên đương sự thống nhất, tính đến ngày 17/8/2021 chị H có trách nhiệm thanh toán lại cho chị T số tiền phạt cọc là 10.000.000đ. Ngoài ra chị T không yêu cầu gì khác.

Xét thấy, việc thỏa thuận giữa các bên là tự nguyện nên chấp nhận.

Căn cứ Điều 32; Điều 33; Điều 34 và Điều 35 của Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 17 tháng 8 năm 2021;

Căn cứ Khoản 2 Điều 328 của Bộ Luật Dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Tính đến ngày 17/8/2021, chị Lê Thị H có trách nhiệm thanh toán cho chị Nguyễn Thị T số tiền phạt cọc là 10.000.000đ.

Chị T được nhận 10.000.000đ tiền phạt cọc do chị H giao lại.

2. Về chi phí hòa giải tại Tòa án: Chị Lê Thị H, chị Nguyễn Thị T không phải chịu.

3. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Các bên liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà họ không thực hiện được quyền đề nghị theo đúng thời hạn thì thời gian đó không tính vào thời hạn đề nghị.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ