- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "ông S yêu cầu tuyên bố bà B là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:03/2021/QĐST-DS | Đông Triều, ngày 10 tháng 12 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Tuyên bố một người đã chết”
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Phạm Khắc Tuyn.
Thư ký phiên họp: Ông Đặng Thanh Tùng -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Nhàn – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 37/2021/TLST-VDS ngày 20 tháng 7 năm 2021 về việc “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2021/QĐST-VDS ngày 22 tháng 11 năm 2021gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1950. Địa chỉ: Thôn Q, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Bế Thị B, sinh năm 1955; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Q, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
*Tại đơn yêu cầu ngày 09 tháng 7 năm 2021 và tại bản tự khai, ông Hoàng Văn S trình bày:
Ông kết hôn với bà Bế Thị B vào năm 1973. Sau khi kết hôn hai người về chung sống tại thôn Q, xã B, huyện (nay là thị xã) Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống ông S và bà B có 04 người con chung tên là Hoàng Xuân L (sinh năm 1975), Hoàng Thị T (sinh năm 1980), Hoàng Thị T1 (sinh năm 1985) và Hoàng Văn T (sinh năm 1987). Vào khoảng tháng 9 năm 1993, do điều kiện kinh tế khó khăn nên bà Bế Thị B đã tự ý bỏ nhà ra đi, không nói cho gia đình biết là đi đâu, làm gì. Kể từ khi bà B bỏ nhà ra đi đến nay đã gần 28 năm. Bản thân ông và những người thân trong gia đình đã hỏi thăm, tìm kiếm bà B nhiều nơi nhưng không thấy tin tức gì của bà B.
Đến nay để đảm bảo quyền và lợi ích của ông cũng như các con, ông S đề nghị Tòa án tuyên bố bà Bế Thị B đã chết.
* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều phát biều quan điểm giải quyết việc dân sự như sau:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên họp và người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định từ Điều 367 đến Điều 369 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự, đề nghị Thẩm phán giải quyết chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Văn S, tuyên bố bà Bế Thị B là đã chết.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự;
Căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều nhận định:
Bà Bế Thị B bỏ đi khỏi nơi cư trú từ khoảng tháng 9 năm 1993, kể từ đó đến nay đã hơn 28 năm và những người thân trong gia đình không có thông tin gì xác thực là bà B còn sống.
Ngày 26 tháng 7 năm 2021, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết. Sau đó, ông Hoàng Văn S đã làm thủ tục thông báo tìm kiếm bà Bế Thị B trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định. Hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng thông tin tìm kiếm đầu tiên, đến nay cũng không có thông tin gì về bà Bế Thị B.
Ông Bế Văn K (anh trai của bà B); anh Hoàng Xuân L, chị Hoàng Thị T, chị Hoàng Thị T1 và anh Hoàng Văn T (là các con của ông S và bà B) đều có đơn trình bày về việc bà B bỏ nhà đi từ năm 1993. Kể từ khi bà B bỏ nhà đi đến nay những người thân trong gia đình đều không có thông tin gì về bà Bế Thị B.
Căn cứ vào các chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định:
Bà Bế Thị B đã biệt tích khỏi nơi cư trú từ năm 1993. Đến nay, đã hơn 28 năm kể từ ngày bà B bỏ đi, gia đình và người thân của bà B không có thông tin xác thực về việc bà B còn sống. Vì vậy, cần căn cứ Điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố bà Bế Thị B là đã chết của ông Hoàng Văn S.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Hoàng Văn S là người cao tuổi, đã có đơn đề nghị miễn nộp lệ phí nên cần căn cứ các quy định của pháp luật để miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự đối với ông Hoàng Văn S.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm d Khoản 1 Điều 71và Điều 72 Bộ luật dân sự; Khoản 4 Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 372, Điều 391, Điều 392 và Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Văn S.
Tuyên bố bà Bế Thị B là đã chết kể từ ngày10 tháng 12 năm 2021.
2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố bà Bế Thị B là đã chết.
- Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Bế Thị B được giải quyết như đối với người đã chết.
- Quan hệ tài sản của bà Bế Thị B được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của bà Bế Thị B được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Về lệ phí: Ông Hoàng Văn S được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra Quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Viện KSND tx. Đông Triều; - Chi cục THADS tx. Đông Triều; - Các đương sự; - UBND xã B; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Khắc Tuyn |