vanban.org

Quyết định 03/2021/QĐHG-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải là anh Nguyễn Thanh H1 và chị Phạm Thị Thúy H2.

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau: 1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh H1 và chị Phạm Thị Thúy H2 thuận tình ly hôn nhau. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Thanh H1 khởi kiện ly hôn chị Phạm Thị Thúy H2"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải là anh Nguyễn Thanh H1 và chị Phạm Thị Thúy H2.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2021/QĐHG-HNGĐTân Lạc, ngày 02 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

Thẩm phán ra quyết định: Ông Trần Văn Mạnh.

Căn cứ vào Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, 58, 107, 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 15 tháng 10 năm 2021, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc tranh chấp ly hôn và giải quyết về người trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên giữa:

Người khởi kiện: Anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1972; địa chỉ: Xóm D, xã Ng, huyện T, tỉnh Hòa Bình.

Người bị kiện: Chị Phạm Thị Thúy H2, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm D, xã Ng, huyện T, tỉnh Hòa Bình.

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải là anh Nguyễn Thanh H1 và chị Phạm Thị Thúy H2.

2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

2. 1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thanh H1 và chị Phạm Thị Thúy H2 thuận tình ly hôn nhau.

2. 2. Về con chung: Chị Phạm Thị Thúy H2 trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con là Nguyễn Thanh Ng, sinh ngày 28/4/2017; anh Nguyễn Thanh H1 có quyền thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở.

Anh Nguyễn Thanh H1 có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cùng chị Phạm Thị Thúy H2 với mức là 1.000.000 (Một triệu) đồng trên một tháng, cho đến khi con đủ 18 tuổi. Phương thức cấp dưỡng thực hiện vào ngày 15 hàng tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 11/2021.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. 3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. 4. Về nợ chung: Không có.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ