vanban.org

Quyết định 03/2021/QĐ-PT — Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/10/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 24/2020/TLPT-KDTM ngày 23 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Trụ sở: Số 108, T, quận H, thành phố Hà Nội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam + Công ty cổ phần X"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 24/2020/TLPT-KDTM ngày 23 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 295 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2021/QĐ-PTHà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hạnh;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Sơn;

Bà Lê Thị Mai.

NHẬN THẤY:

Sau khi xét xử sơ thẩm, Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2019/KDTM-ST ngày 16/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương bị kháng cáo như sau:

Ngày 12 và 13 tháng 11 năm 2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vợ chồng cụ Nguyễn Văn S, cụ Nguyễn Thị N và vợ chồng ông Đoàn Văn H, bà Nguyễn Thị H1 (là con của vợ chồng cụ N) có đơn kháng cáo với nội dung: Vợ chồng cụ S bị ông H2 lừa ký hợp đồng thế chấp và trên đất có nhà của vợ chồng ông H, bà H1 (là con của cụ), nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét làm ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ chồng ông H, bà H1.

XÉT THẤY:

Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm và triệu tập phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 29/12/2020, nhưng đã phải hoãn phiên tòa do vắng mặt bị đơn là Công ty cổ phần X do ông Nguyễn Đức H2 làm Giám đốc, là đại diện theo pháp luật của Công ty và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T (con của vợ chồng cụ S, cụ N).

Ngày 21/12/2020, ông Nguyễn Đức H2 có đơn đề nghị có nội dung xác nhận đã nhận được giấy triệu tập phiên tòa ngày 29/12/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và xin hoãn xét xử đến tháng 6/2021 với lý do đang làm thủ tục mổ thoát vị đĩa đệm.

Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội tiếp tục có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm vào ngày 26/5/2021, nhưng do diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 nên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có văn bản thông báo hoãn phiên tòa nêu trên cho các đương sự.

Ngày 21/10/2021, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội tiếp tục mở phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với vụ án trên. Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn là Công ty cổ phần X do ông Nguyễn Đức H2 làm Giám đốc, là đại diện theo pháp luật của Công ty và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T (con của vợ chồng cụ S, cụ N) và Văn phòng công chứng S. Kết quả báo phát của bưu điện thể hiện đã giao giấy triệu tập phiên tòa ngày 21/10/2021 cho Công ty cổ phần X và ông Nguyễn Đức H2 (do con ông H2 là Nguyễn Quốc H3 ký nhận) nên có cơ sở xác định ông Nguyễn Đức H2 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Các đương sự vắng mặt đều không có kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 21/10/2021, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo là cụ Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn H4 là người đại diện theo ủy quyền của cụ Nguyễn Thị N (Văn bản ủy quyền ngày 18/10/2021); vợ chồng ông Đoàn Văn H (ông H đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H1) đều rút toàn bộ đơn kháng cáo.

Căn cứ Điều 289; Điều 295 Bộ luật Tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 24/2020/TLPT-KDTM ngày 23 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

Trụ sở: Số 108, T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1 - Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn T2 - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Hưng Yên.

Bị đơn: Công ty cổ phần X.

Trụ sở: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức H2 - Giám đốc.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Đức H2, sinh năm 1963; địa chỉ: Số nhà 60, khu 1, thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên.

- Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1970 và anh Vũ Văn O, sinh năm 1991; đều trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương. Người đại diện theo ủy quyền của bà U và anh O là ông Vũ Văn K (là chồng bà U), sinh năm 1967; trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương.

- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương.

- Cụ Nguyễn Văn S, sinh năm 1940 và cụ Nguyễn Thị N, sinh năm 1945 (cụ N ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H4- con bà N); địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cụ S, cụ N: Ông Phạm Khắc D - Văn phòng Luật sư A thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Hải Dương.

- Ông Đoàn Văn H, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị H1 (chị H1 ủy quyền cho ông H), sinh năm 1980; địa chỉ: Khu V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

- Văn phòng Công chứng S (nay là Văn phòng công chứng Nguyễn Thị T3).

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T3 - Trưởng Văn phòng.

Địa chỉ: Số 07, đường T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

2. Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2019/KDTM-ST ngày 16 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

3. Về án phí: Cụ Nguyễn Văn S và cụ Nguyễn Thị N là người cao tuổi được miễn nộp tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí. Ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 3.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, được đối trừ số tiền 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm ông H, bà H1 đã nộp tại Biên lai số AA/2018/0000738 ngày 20/12/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị H1 còn phải chịu 2.700.000 đồng tiền án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

4. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu lực thi hành án.

Cỡ chữ