vanban.org

Quyết định 03/2021/QĐ-PT — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/10/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Phan Ngọc T.

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình số 02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để tiếp tục giải quyết vụ án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "quyết định giải quyết kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Phan Ngọc T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2021/QĐ-PTBình Dương, ngày 15 tháng 10 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Lưu Thị Mỹ Hương

Các Thẩm phán:

Ông Đoàn Hoài Trí

Ông Trần Văn Luông

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình số 02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2021, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã căn cứ điểm e khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 617/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2019 về việc “tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn” giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Ngọc T, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ 1, khu phố 1, phường M, thị xã B, tỉnh B.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phước L, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ 1, khu phố 1, phường M, thị xã B, tỉnh B.

Tại đơn kháng cáo ngày 21 tháng 01 năm 2021, nguyên đơn bà Phan Ngọc T kháng cáo yêu cầu hủy quyết định sơ thẩm với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ việc giải quyết vụ án làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Phan Ngọc T.

XÉT THẤY:

Ngày 24 tháng 6 năm 2019, Trung tâm Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát hòa giải việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con giữa ông Nguyễn Phước L và bà Phan Ngọc T.

Ngày 27 tháng 6 năm 2019, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát đã thụ lý việc dân sự số 426/2019/TLST-HNGĐ về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con giữa ông Nguyễn Phước L và bà Phan Ngọc T.

Ngày 26 tháng 6 năm 2019, bà T đã có đơn thay đổi ý kiến hoà giải và gửi đến Tòa án theo đường bưu điện vào ngày 27 tháng 6 năm 2019 (về cấp dưỡng nuôi con, về chia tài sản chung). Đơn này được chuyển đến Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát vào ngày 01 tháng 7 năm 2019.

Ngày 02 tháng 7 năm 2019, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát đã ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự số 217/2019/QĐST-HNGĐ (về ly hôn và con chung). Quyết định này đã bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị giám đốc thẩm.

Ngày 16 tháng 7 năm 2019, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát nhận được đơn xin yêu cầu phản tố đề ngày 03 tháng 7 năm 2019 của bà T. Nội dung đơn: Bà T đồng ý ly hôn với ông L; yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng; yêu cầu chia tài sản chung (nhà, đất, xe, ...).

Đơn yêu cầu phản tố ngày 16 tháng 7 năm 2019 của bà T đã đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự, bao gồm: Ngày, tháng, năm làm đơn; tên Tòa án nhận đơn; tên, địa chỉ của người khởi kiện và người bị kiện; những vấn đề cụ thể bà T yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà T đã nộp tạm ứng án phí. Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát cho rằng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà T nên đã tách đơn yêu cầu phản tố của bà T và thụ lý bằng vụ án hôn nhân và gia đình số 617/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2019 về việc: “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm phải thu thập chứng cứ và giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Việc Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng đơn của bà T làm không đúng biểu mẫu (mẫu số 23-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) để đình chỉ giải quyết vụ án là không đảm bảo quyền lợi cho bà T; không đúng quy định tại khoản 4 Điều 189, điểm e khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Kháng cáo của bà T là có căn cứ chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc đề nghị hủy quyết định sơ thẩm là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Phan Ngọc T.

2. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình số 02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để tiếp tục giải quyết vụ án.

3. Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Phan Ngọc T không phải nộp. Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương trả lại cho bà Phan Ngọc T 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0054277 ngày 04 tháng 02 năm 2021.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ