- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố một người đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Đình Q.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2020/QĐST-VDS | TP. Yên Bái, ngày 11 tháng 5 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Quang Trung.
- Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Mai Huế - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 58/2019/TLST-VDS ngày 03 tháng 12 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 07/2020/QĐST-VDS ngày 05 tháng 5 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Đỗ Đình Q.
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Phạm Thị T.
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 25, phường N, TP. Y, tỉnh Yên Bái.
+ Bà Nguyễn Thị D.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
+ Chị Đỗ Thị Thanh T.
+ Chị Đỗ Thị Minh H.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 03 tháng 12 năm 2019 và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Đỗ Đình Q trình bày:
Ông và bà Phạm Thị T có đăng ký kết hôn năm 1992. Quá trình chung sống, ông Q và bà T có hai con chung là cháu Đỗ Thị Thanh T (sinh ngày 06/5/1993) và cháu Đỗ Thị Minh H (sinh ngày 07/9/2000). Bà Phạm Thị T có bố đẻ là ông Phạm Ngọc S đã chết năm 2016 và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1932, hiện nay đang sống tại tổ dân phố C, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Ông Q và bà T chung sống đến tháng 7/2009, bà T bỏ nhà đi biệt tích và không có tin tức gì. Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái đã tuyên bố một người là mất tích đối với bà Phạm Thị T theo Quyết đinh số 04/2016/QĐST-VDS ngày 24/5/2016. Ngày 30/11/2016, ông Đỗ Đình Q và bà Phạm Thị T đã ly hôn theo bản án số 57/2016/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái. Kể từ ngày Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái tuyên bố một người là mất tích đối với bà Phạm Thị T cho đến nay, ông Q không có tin tức gì về bà T. Nay ông Đỗ Đình Q yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với bà Phạm Thị T để ông Q làm các thủ tục có liên quan đến đất đai, làm các thủ tục giao dịch hành chính, dân sự khác của ông Q và các con của ông Q.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị D(mẹ đẻ của bà T), chị Đỗ Thị Thanh T ( con gái của bà T), chị Đỗ Thị Minh H (con gái của bà T) có lời khai, bản tự khai thể hiện: Bà D, chị T, chị H đều thống nhất như lời trình bày của ông Q. Từ tháng 7/2009, bà T bỏ nhà đi biệt tích đến nay vẫn không có tin tức xác thực là bà T còn sống hay đã chết. Bà D, chị T, chị H đều thống nhất với ý kiến của ông Q yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết đối với bà T để làm các thủ tục có liên quan đến đất đai.
Tại phiên họp, ông Đỗ Đình Q vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm về giải quyết việc dân sự như sau: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, các đương sự từ khi thụ lý và trong quá trình giải quyết việc dân sự đến khi mở phiên họp đã đúng theo quy dịnh của pháp luật. Về việc giải quyết việc dân sự như sau: Đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận đơn yêu cầu của người yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Đỗ Đình Q. Về lệ phí, kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái nhận định:
Về tố tụng: Ông Đỗ Đình Q yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà Phạm Thị T. Ông Đỗ Đình Q, bà Phạm Thị T có nơi cư trú tại thành phố Yên Bái nên yêu cầu của ông Q về việc giải quyết việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái theo quy định tại khoản 4 Điều 27; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin giải quyết vắng mặt là hợp lệ. Căn cứ Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành mở phiên họp vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Quá trình giải quyết vụ việc: Người yêu cầu và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng xác định bà Phạm Thị T bỏ nhà đi từ tháng 7/2009 đến nay không có tin tức gì. Năm 2016 Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái đã tuyên bố một người là mất tích đối với bà Phạm Thị T. Sau 03 năm kể từ ngày Quyết định tuyên bố một người là mất tích đối với bà T có hiệu lực pháp luật đến nay vẫn không có tin tức xác thực bà T còn sống.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, Tòa án nhân dân thành phố đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 59/2019/QĐ-TA đối với bà Phạm Thị T. Việc thông báo tìm kiếm thông tin về bà T đã được đăng, phát 03 số liên tiếp trên Báo Công lý, trên Đài tiếng nói Việt Nam và trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức của bà Phạm Thị T.
Từ các căn cứ nêu trên, xét yêu cầu của ông Đỗ Đình Q về việc yêu cầu tuyên bố bà Phạm Thị T là đã chết, mục đích để làm các thủ tục có liên quan đến đất đai, làm các thủ tục giao dịch hành chính, dân sự khác là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 71 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Đình Q
Theo lời trình bày của các đương sự thì không xác định được ngày biết tin tức cuối của bà T, chỉ xác định được tháng biết tin tức cuối của bà T là tháng 7/2009. Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, ngày chết của bà T được xác định là ngày 01/8/2009.
Trường hợp bà Phạm Thị T trở về hoặc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có tin tức xác thực bà T còn sống thì bà T và những người này có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ Quyết định tuyên bố bà T đã chết. Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về tài sản của bà T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp: Chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Đình Q là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy đinh của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 367, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 68, Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự.
- Căn cứ Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Đình Q.
Tuyên bố bà Phạm Thị T, sinh ngày 17-01-1971, nơi cư trú cuối cùng tổ 25, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái đã chết ngày 01-8-2009.
2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố bà Phạm Thị T là đã chết:
- Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà T được giải quyết như đối với người đã chết.
- Quan hệ tài sản của bà T được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của bà T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Ông Đỗ Đình Q phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí mà ông đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: AA/2017/0005169 ngày 03-12-2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Ông Q đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Người yêu cầu, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định đó được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; -VKSND TP. Yên Bái; - Chi cục THADS TP. Yên Bái; - Các đương sự; - Lưu: HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đã ký Bùi Quang Trung |