- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh C và chị L"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 01/2019/TLPT-HNGĐ ngày 05-12-2019 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa:
- Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2020/QĐPT-HNGĐ | Bắc Ninh, ngày 14 tháng 01 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Giáp.
Các Thẩm phán:
Ông Hoàng Tuấn Anh.
Bà Nguyễn Tuyết Mai.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/HNGĐ-ST ngày 30-8-2019 của Tòa án nhân dân huyện T bị kháng cáo như sau:
Ngày 19 tháng 9 năm 2019, chị Nguyễn Thị L kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.
XÉT THẤY
Ngày 30 tháng 8 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện T đã xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa:
- Nguyên đơn: Anh Ngô Công C, sinh năm 1971.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1972.
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 30-8-2019, chị L có mặt tại phiên tòa, chị đã được nghe Thư ký Tòa án phổ biến nội quy phòng xét xử, được Hội đồng xét xử phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên tòa, chị đã được trình bày và nghe Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án. Nhưng do bức xúc với quan điểm của Viện Kiểm sát nên chị L tự ý rời khỏi phòng xét xử. Theo quy định tại Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự thì: “Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử vụ án, trừ trường hợp được chủ tọa phiên tòa đồng ý cho rời khỏi phòng xử án khi có lý do chính đáng”. Như vậy, chị L tự ý rời khỏi phòng xét xử mà chưa được sự cho phép của Chủ tọa phiên tòa đã vi phạm nội quy của phiên tòa.
Chị L cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không tuyên án mà chỉ có Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu là xong phiên tòa là không có căn cứ. Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì, sau khi Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã tiến hành nghị án và tuyên án ngay trong ngày theo đúng quy định của pháp luật.
Về thời hạn kháng cáo: Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án... Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án”.
Chị L có mặt tại phiên tòa nhưng tự ý rời khỏi phòng xét xử khi chưa được sự cho phép của chủ tọa phiên tòa, vắng mặt khi Tòa tuyên án mà không có lý do chính đáng. Như vậy thời hạn kháng cáo của chị L là 15 ngày kể từ ngày Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án. Vì vậy, đến ngày 19 tháng 9 năm 2019 chị L nộp đơn kháng cáo là quá thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị L cho rằng đến ngày 12-9-2019, chị mới nhận được bản án sơ thẩm nên ngày 19-9-2019 vẫn trong thời hạn kháng cáo là không có căn cứ chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị L rút yêu cầu kháng cáo. Theo quy định của pháp luật thì đương sự rút kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, việc kháng cáo của chị L là quá hạn theo quy định của pháp luật nên không được xem xét vì vậy chị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào các Điều 273, 275, 289, 295, khoản 5 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 01/2019/TLPT-HNGĐ ngày 05-12-2019 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa:
- Nguyên đơn: Anh Ngô Công C, sinh năm 1971.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1972.
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
2. Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/HNGĐ-ST ngày 30-8-2019 của Tòa án nhân dân huyện T có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận chị L đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số AA/2017/0003276 ngày 19-9-2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Chị L được nhận lại số tiền 300.000 đồng.
4. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu lực thi hành án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - TAND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Giáp |