- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Ông Phạm G T - Chị Phạm T C"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2020/QĐDS-ST Ngày: 06.3.2020 V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Thị Việt Nga - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân
quận Đống Đa
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên họp:
Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 06.3.2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 155/2019/TLST-VDS ngày 16.12.2019 về yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp số 49/2020/QĐPH-VDS ngày 27.02.2020.
Người yêu cầu: Ông Phạm G T, sinh năm 1945 (Có mặt)
HKTT và nơi cư trú: A ngõ B, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Người bị yêu cầu: Chị Phạm T C, sinh năm 1971 (Vắng mặt)
HKTT và nơi cư trú: A ngõ B, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự ngày 15.11.2019 và các lời khai tại Tòa án, ông Phạm G T trình bày:
Tôi là bố đẻ của chị Phạm T C. Tôi và bà Nguyễn T C (đã mất năm 2012) sinh được 3 con chung là anh Phạm G T (sinh năm 1966), anh Phạm G T (sinh năm 1968) và chị Phạm T C (sinh năm 1971).
Hiện nay tôi, anh T và chị C có hộ khẩu thường trú và cư trú tại số A ngách ngõ B, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Con trai thứ hai của tôi là Phạm G T hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Tân Sơn, tỉnh Hà Nam về tội “Giết người” với hình phạt tù Chung thân.
Chị C – con gái tôi bị bệnh Down bẩm sinh từ nhỏ dẫn đến không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, mọi sinh hoạt hàng ngày của chị C đều phải có sự giúp đỡ của người khác. Mấy năm gần đây chị C được nhận trợ cấp xã hội hàng tháng của Uỷ ban nhân dân quận Đống Đa đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, mức trợ cấp hàng tháng là 525.000 đồng (năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Tình trạng bệnh của chị C nặng nên gia đình tôi cũng hạn chế cho chị ra ngoài để bảo vệ sức khỏe của chị C.
Để đảm bảo quyền lợi cho con gái tôi, tôi đề nghị Tòa án nhân dân quận Đống Đa tuyên bố chị Phạm T C bị mất năng lực hành vi dân sự và cử tôi làm người giám hộ cho chị C.
- Anh Phạm Gia T có lời khai thống nhất với lời khai của ông Thịnh, đề nghị Tòa án tuyên bố chị Phạm T C là người mất năng lực hành vi dân sự và cử ông Phạm G T là người giám hộ cho chị Phạm T C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Đống Đa nhận định như sau:
Tại Kết luận giám định sức khoẻ tâm thần số 19/KHTH-BV ngày 25.02.2020, Hội đồng giám định Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 - Bộ Y tế kết luận:
“Chị Phạm T C bị bệnh Chậm phát triển tâm thần trầm trọng (mã bệnh theo ICD – 10: F73)/ Hội chứng Down. Hiện tại mất năng lực hành vi dân sự.”
Ông Phạm G T (bố đẻ chị C) yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Phạm T C mất năng lực hành vi là có căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận.
Chị Phạm T C là con chung của ông Phạm G T và bà Nguyễn Thị Chung (bà Chung đã chết). Nay chị Phạm T C mất năng lực hành vi dân sự, căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 73 Luật Hôn nhân và gia đình và Khoản 3 Điều 53 Bộ luật Dân sự, Tòa án quyết định ông Phạm G T (bố đẻ chị Phạm T C) là người giám hộ (đại diện) của chị Phạm T C.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Phạm G T là người cao tuổi nên được miễn nộp lệ phí.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 73 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điều 22, Điểm c Khoản 1 Điều 47, Điều 49, Khoản 3 Điều 53 Bộ luật Dân sự;
- Khoản 1 Điều 27, Điều 361, 370, 371, 372, 376, 378 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố chị Phạm T C, sinh năm 1971; chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 21.5.2015; hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Số A ngách B, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội là người mất năng lực hành vi dân sự.
2. Ông Phạm G T, sinh 1945; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 26.9.2016; hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Số 39 ngách 42 ngõ Thông Phong, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội là người giám hộ của chị Phạm T C.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Hoàn trả ông Phạm G T tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0009589 ngày 12.12.2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
4. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - VKSND quận Đống Đa, TP Hà Nội; - Chi cục THADS quận Đống Đa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA Thẩm phán Nguyễn Thị Việt Nga ( Đã ký) |