vanban.org

Quyết định 03/2020/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T: Tuyên bố ông Lê Văn Đ, sinh năm 1953, sinh quán và nơi cư trú cuối cùng thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H đã chết tính từ ngày 17/8/2010.

Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật, quan hệ hôn nhân và gia đình, các quan hệ nhân thân khác của ông Đ được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ về tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Về lệ phí giải quyết việc dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố chết đối với ông Lê Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T: Tuyên bố ông Lê Văn Đ, sinh năm 1953, sinh quán và nơi cư trú cuối cùng thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H đã chết tính từ ngày 17/8/2010.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2020/QĐDS-ST
Ngày 19/11/2020
“V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN - TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Bùi Xuân Thành.

- Thư ký phiên họp: Ông Đào Quang Khuyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Miện mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 03/2020/ST-VDS ngày 10 tháng 6 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2020/QĐPH-VDS ngày 09 tháng 11 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lê Văn T - sinh năm 1980;

HKTT: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn Đ - sinh năm 1953.

Sinh quán và nơi cư trú cuối cùng tại: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H.

+ Bà Giang Thị Đ1 - sinh năm 1953

+ Chị Lê Thị L - sinh năm 1984

+ Anh Lê Văn L1 - sinh năm 1988

HKTT: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H.

Anh T có mặt, bà Đ1, anh L, chị L1 xin vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, anh Lê Văn T trình bày: Bố anh là ông Lê Văn Đ, sinh năm 1953; mẹ là Giang Thị Đ1, sinh năm 1953 có đăng ký kết hôn tại UBND xã N năm 1978, sinh được 03 người con là Lê Văn T, sinh năm 1980; Lê Thị L, sinh năm 1984 và Lê Văn L1, sinh năm 1988; sau khi kết hôn bố mẹ anh vẫn sống vui vẻ hòa thuận sau đó ông Đ bị bệnh thần kinh, gia đình đã đưa đi chữa trị tại nhiều bệnh viện nhưng vẫn không giảm sau đó gia đình lấy thuốc về điều trị tại nhà. Ngày 15/8/2005 ông Đ đã bỏ nhà đi biệt tích đến nay không có tin tức gì, gia đình anh đã tổ chức tìm kiếm nhiều nơi và làm làm thủ tục đăng tìm ông Đ trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức gì, không biết ông Đ sống chết như thế nào. Nay Anh T làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Thanh Miện tuyên bố ông Lê Văn Đ là đã chết để gia đình hoàn thiện các thủ tục theo quy định;

Bà Giang Thị Đ1 là vợ của ông Đ, chị Lê Thị L, anh Lê Văn L1 là con của ông Lê Văn Đ cũng nhất trí trình bày trên của Anh T, đồng ý với yêu cầu của anh Lê Văn T đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố ông Lê Văn Đ là đã chết theo quy định của pháp luật.

Tòa án xác minh với trưởng thôn T, cán bộ Tư pháp xã N đều xác định ông Lê Văn Đ bỏ nhà đi biệt tích từ ngày 15/8/2005 đến nay không trở về gia đình và địa phương, không có tin tức gì về ông Đ, không biết ông Lê Văn Đ sống chết như thế nào, nay anh Lê Văn T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Văn Đ là đã chết, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp và Thư ký phiên họp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện áp dụng: Khoản 4 Điều 27, Điều 391, 392, 393 và Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật dân sự, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T: Tuyên bố ông Lê Văn Đ, sinh năm 1953; sinh quán và nơi cư trú cuối cùng: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H là đã chết kể từ ngày 16/8/2010.

Quan hệ về hôn nhân và gia đình, các quan hệ nhân thân khác của ông Lê Văn Đ được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ về tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về án phí: Anh Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương nhận định:

Về tố tụng: Anh Lê Văn T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện tuyên bố ông Lê Văn Đ, sinh năm 1953; sinh quán và nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H là đã chết. Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương có thẩm quyền giải quyết việc dân sự theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1953 và bà Giang Thị Đ1, sinh năm 1953 kết hôn tại UBND xã N ngày 06/02/1978; trong thời gian chung sống ông, bà sinh được 03 người con là Lê Văn T, sinh năm 1980; Lê Thị L, sinh năm 1984 và Lê Văn L1, sinh năm 1988; sau khi kết hôn ông bà vẫn khỏe mạnh, hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2004 thì ông Đ bị bệnh thần kinh, gia đình đưa đi điều trị nhưng bệnh vẫn không giảm, sau đó gia đình lấy thuốc về nhà điều trị tại nhà nhưng không khỏi, ngày 15/8/2005 ông Đ đã bỏ nhà đi đâu không biết, không trở về gia đình và địa phương, gia đình Anh T đã tổ chức tìm kiếm nhiều nơi và đã làm thủ tục nhắn tin trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức gì về ông Đ, không biết ông Đ còn sống hay đã chết. Nay anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện tuyên bố ông Lê Văn Đ là đã chết theo quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện xác minh với bà Giang Thị Đ1 là vợ của ông Lê Văn Đ, chị Lê Thị L, anh Lê Văn L1 là con của ông Lê Văn Đ và xác minh với trưởng thôn T, xã N, huyện T, cán bộ Tư pháp nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng đều xác định ông Lê Văn Đ biệt tích từ ngày 15/8/2005 đến nay không biết sống chết như thế nào. Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương đã Thông báo tìm kiếm ông Lê Văn Đ trên báo Nhân dân 03 số liên tiếp ra các ngày 19,20,21/6/2020 và Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOV AMS) vào các ngày 18,19,20/6/2020, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì về ông Lê Văn Đ. Tòa án đã có công văn đề nghị Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an, xác định trong cơ sơ dữ liệu Cục xuất nhập cảnh quản lý không có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh của ông Lê Văn Đ.

Sau khi hết hạn 04 tháng Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện tiếp tục xác minh tại địa phương và người thân trong gia đình ông Lê Văn Đ vẫn không có tin tức gì về ông Đ. Để đảm bảo quyền lợi của người yêu cầu và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 71, 71 Bộ luật dân sự; các Điều 39, 392, 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T tuyên bố ông Lê Văn Đ đã chết. Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện xác định ngày có tin tức cuối cùng về ông Đ là ngày 16/8/2005.

Về quan hệ hôn nhân và gia đình, các quan hệ nhân thân khác của ông Lê Văn Đ được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ về tài sản của người bị tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về chi phí đăng phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố đã chết: Anh T đã thanh toán xong và không có ý kiến gì.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Lê Văn T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 369, 370, 391, 393 và Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Văn T: Tuyên bố ông Lê Văn Đ, sinh năm 1953, sinh quán và nơi cư trú cuối cùng thôn T, xã N, huyện T, tỉnh H đã chết tính từ ngày 17/8/2010.

Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật, quan hệ hôn nhân và gia đình, các quan hệ nhân thân khác của ông Đ được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ về tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2017/0003151 ngày 10-6-2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện.

3. Phiên họp sơ thẩm công khai, báo cho Anh T biết có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Bà Giang, chị L1, anh L vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ