vanban.org

Quyết định 03/2020/QĐ-TA

TAND huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 10/08/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Chung Đức V

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng (mười tám tháng), kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện - V"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Chung Đức V
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 107 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03 /2020/ QĐ-TAN, ngày 10 tháng 8 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Bà Lý Thị Luân

Thư ký phiên họp: Ông Ma Văn Chung - Thư ký Toà án.

Ngày 10/8/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2020/QĐ-TA ngày 31 tháng 7 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Chung Đức V;

Giới tính: Nam

Sinh ngày 10 tháng 8 năm 1976.

CMND số: 095009852; Ngày cấp: 25/6/2018; Nơi cấp: CA tỉnh Bắc Kạn

Dân tộc: Nùng

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 02/12.

Nguyên quán: thị trấn Yc, huyện N, tỉnh Bắc Kạn

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ nhân dân P, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy

Con ông: Chung Sập Ử ( đã chết ) và bà: Hoàng Thị C ( đã chết )

Vắng mặt tại phiên họp ( không có lý do ).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nông Thị Na - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện N, tỉnh Bắc Kạn theo giấy ủy quyền ngày 05 tháng 8 năm 2020

2. Đại diện Viện kiểm sát: Ông Nông Thiêm Mẫn – Kiểm sát viên VKSND huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Chung Đức V là người nghiện chất ma túy từ năm 2010 đến nay bằng hình thức chích. Ngày 20/5/2020, Chung Đức V bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 119/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn với thời gian 03 tháng. Ngày 14/7/2020 Công an thị trấn Y tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Chung Đức V . Kết quả xét nghiệm là dương tính ( có sử dụng ma túy ) nên Chủ tịch UBND thị trấn Y đã ra quyết định số 177/QĐ-UBND ngày 14/7/2020 quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Chung Đức V.

Ngày 15/7/2020, Công an thị trấn Y, huyện N ra thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 20/7/2020 UBND thị trấn Y có văn bản số 30/ĐN-UBND đề nghị Phòng Tư pháp huyện N, tỉnh Bắc Kạn kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Sau khi kiểm tra hồ sơ, ngày 24/7/2020, Phòng Tư pháp huyện N có thông báo số 102/TB-PTP về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Ngày 27/7/2020 Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện N có văn bản số 95/LĐTBXH đề nghị Tòa án nhân dân huyện N xem xét áp dụng biện pháp đưa Chung Đức V vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện N trình bày hồ sơ và đề nghị Tòa án ra quyết định đưa Chung Đức V vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu quan điểm đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đã thực hiện đúng trình tự quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Quan điểm của Kiểm sát viên: Đồng ý với đề nghị quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội, áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chung Đức V thời hạn là 18 tháng.

XÉT THẤY:

Qua nghiên cứu, xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chung Đức V; sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N có đủ căn cứ để xác định:

Hồ sơ đề nghị Tòa án ra quyết định đưa Chung Đức V vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được lập đầy đủ, đúng quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103 và 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.

Chung Đức V là người nghiện chất ma túy, sử dụng ma túy từ năm 2010 đến nay, V nhận thức đầy đủ việc nghiện hút ma túy là tự hủy hoại cơ thể, làm khánh kiệt tài sản của chính người sử dụng ma túy, làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội, gây mất trật tự ở địa phương. Mặc dù đã được gia đình, các cấp chính quyền địa phương nhắc nhở nhiều lần và đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng có hành vi vi phạm, sử dụng trái phép chất ma túy và bị chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn được chứng minh bằng kết quả xét nghiệm đối với Chung Đức V và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Do vậy việc UBND thị trấn Y, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện N lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện N ra quyết định đưa V vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ và cần thiết để tạo điều kiện cho V có thể cai nghiện được và trở thành người công dân tốt.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Chung Đức V có 01 tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tại quyết định số 199/QĐ - XPHC ngày 16/9/2019 của Công an huyện N quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Chung Đức V về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy với số tiền 1.000.000,đ ( Một triệu đồng ) đến nay V chưa nộp phạt, Chung Đức V biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng anh V vẫn cố ý sử dụng nên V phải chịu 01 tình tiết tăng nặng tại khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính; Chung Đức V không được hưởng tình tiết giảm nhẹ nào.

Chung Đức V bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 119/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn với thời gian 03 tháng. Chung Đức V đã chấp hành biện pháp giáo dục tại xã được 01 tháng 26 ngày thì bị chấm dứt áp dụng tại xã, phường, thị trấn do Chung Đức V có hành vi vi phạm trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Tại phiếu xét nghiệm kiểm tra chất ma túy ngày 14/7/2020 đối với Chung Đức V, kết quả cho thấy dương tính (có sử dụng chất ma túy).

Căn cứ vào các tài liệu đã được kiểm tra tại phiên họp. Căn cứ vào ý kiến của cơ quan đề nghị trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên.

Áp dụng khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 104, Điều 107, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ khoản 1 Điều 3, Điều 22, 23, 30, 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Chung Đức V

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng (mười tám tháng), kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niên yết. Thời hạn kiến nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện N, kháng nghị của Viện kiểm sát huyện N là 03 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan Phòng Lao động - Thương binh và xã hội, Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ