vanban.org

Quyết định 03/2019/QĐST-HNGĐ — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S;

Xác định chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ 79 phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng là mẹ đẻ của cháu Võ Lê Phước Đ, sinh ngày 25.8.2014. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S phải chịu, được trừ v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định mẹ cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Q.THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2019/QĐST-HNGĐThanh Khê, ngày 19 tháng 6 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v xác định mẹ cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Văn Hậu.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 212/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2019 về việc "Yêu cầu xác định mẹ cho con" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 212/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1991, địa chỉ: Tổ 79 phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

- Chị Lê Thị Thúy H, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện V, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

- Anh Võ S, sinh năm 1976, địa chỉ: Tổ 23 phường Q, quận N, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu đề ngày 09.5.2019 và tại phiên họp hôm nay chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S thống nhất trình bày: Cháu Võ Lê Phước Đ, sinh ngày 25.8.2014 là con ruột của chị Nguyễn Thị Tuyết N. Sau khi sinh cháu Đ, vì lý do cá nhân nên chị N không đi làm thủ tục khai sinh mà nhờ chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S đi làm thủ tục khai sinh và đứng tên là cha mẹ trong giấy khai sinh của cháu Đ. Thực tế cháu Đ vẫn sinh sống cùng chị N và được chị N chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Nay chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S yêu cầu Tòa án công nhận chị Nguyễn Thị Tuyết N là mẹ ruột của cháu Võ Lê Phước Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S, căn cứ Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình công nhận chị Nguyễn Thị Tuyết N là mẹ ruột của cháu Võ Lê Phước Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nhận định:

*Về tố tụng: Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

*Về nội dung:

Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S về việc xác định chị Nguyễn Thị Tuyết N là mẹ ruột của cháu Võ Lê Phước Đ thì thấy: Chị Nguyễn Thị Tuyết N là mẹ ruột của cháu Võ Lê Phước Đ. Vì lý do cá nhân nên sau khi sinh cháu Đ chị N không đi làm thủ tục khai sinh mà nhờ chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S đi làm thủ tục khai sinh và đứng tên là cha mẹ trong giấy khai sinh của cháu Võ Lê Phước Đ. Nay chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S yêu cầu Tòa án công nhận chị Nguyễn Thị Tuyết N là mẹ của cháu Võ Lê Phước Đ.

Kết quả xét nghiệm ADN giữa chị Nguyễn Thị Tuyết N và cháu Võ Lê Phước Đ do Công ty TNHH Công nghệ di truyền Việt Nam cung cấp thể hiện: "Mẫu ADN ký hiệu NGUYỄN THỊ TUYẾT N và mẫu ADN ký hiệu VÕ LÊ PHƯỚC Đ có quan hệ huyết thống Mẹ - Con, với tần suất 99,9999948%".

Do vậy có đủ cơ sở để xác định chị Nguyễn Thị Tuyết N là mẹ đẻ của cháu Võ Lê Phước Đ. Căn cứ vào Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê là hoàn toàn phù hợp.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S phải chịu.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm t khoản 2 Điều 39, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S;

Xác định chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ 79 phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng là mẹ đẻ của cháu Võ Lê Phước Đ, sinh ngày 25.8.2014.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0004803 ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại Chi cục thi hành án quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Chị Nguyễn Thị Tuyết N, chị Lê Thị Thúy H và anh Võ S có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ