vanban.org

Quyết định 03/2019/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/03/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trịnh Đình V.

Tuyên bố bà Trần Thị Đ, sinh năm 1952 là người mất năng lực hành vi dân sự. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trịnh Đình V phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0028052 ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Ông Trịnh Đình V yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trịnh Đình V.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH B
Số: 03/2019/QĐDS- ST
Ngày 26-3-2019
V/v: Tuyên bố một người mất năng
lực hành vi dân sự

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Kiều Thị Uyên.

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B tham gia phiên họp: Ông Lê Thanh Tùng, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 49/2019/TLST - DS ngày 25/01/2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo quyết định mở phiên họp số: 03/9QĐPH-ST ngày 15 tháng 3 năm 2019.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Trịnh Đình V, sinh năm 1948; Thường trú: Số 62, đường An Bình, khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1982, Thường trú: Số 62, đường An Bình, khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh B; Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Chị Trịnh Thị N, sinh năm 1984, Thường trú: Số 28, đường số 7, khu phố N, phường Dĩ An, thị xã D, tỉnh B; Có mặt

3. Chị Trịnh Trần M, sinh năm 1989, Thường trú: Số 62 đường An Bình, khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh B; Có mặt

4. Chị Trịnh Thị D, sinh năm 1991, Thường trú: Số 62 đường An Bình, khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh B. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Ông Trịnh Đình V yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Đ, sinh năm 1952, thường trú: Số 62, đường An Bình, khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh B mất năng lực hành vi dân sự để thực hiện các giao dịch dân sự.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: Lời trình bày và các chứng cứ do người yêu cầu cung cấp phù hợp với quy định của pháp luật, kết quả giám định pháp y tâm thần kết luận bà Trần Thị Đ mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định bà Trần Thị Đ bị mất năng lực hành vi dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về yêu cầu: Ông Trịnh Đình V, sinh năm 1948; Thường trú: Số 62, đường An Bình, khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh B, yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Đ, sinh năm 1952; thường trú: Số 62, đường An Bình, khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh B bị mất năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, đây là việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B theo quy định tại khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung việc dân sự: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1952 là vợ của ông Trịnh Đình V và mẹ của các chị Trịnh Thị T, chị Trịnh Thị N, chị Trịnh Trần M, chị Trịnh Thị D. Từ năm 2003 bà Trần Thị Đ bị run và tê chân, tay bệnh ngày càng tăng, đi khám và được chẩn đoán bệnh Parkinson, từ năm 2005 bà Đặt không cầm nắm được đồ vật, có biểu hiện không còn minh mẫn, không thể nhận thức và làm chủ được hành vi và mọi sinh hoạt cá nhân đều do ông Trịnh Đình V và các con chăm sóc.

Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai của đương sự kết hợp với chứng cứ là Kết luận giám định pháp y tâm thần số 115/KL-VPYTW ngày 11/3/2019, của Viện Pháp Y Tâm Thần Trung ương Biên Hòa kết luận:

- Về y học: Hiện nay đương sự bị bệnh Mất trí trong bệnh Parkinson (F02.3-ICD.10).

- Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay đương sự mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định bà Trần Thị Đ là người bị mất năng lực hành vi dân sự.

Vì vậy, yêu cầu của ông Trịnh Đình V là phù hợp với quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự, khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 22 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 27 và các Điều 371, Điều 376 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 37, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Trịnh Đình V.

Tuyên bố bà Trần Thị Đ, sinh năm 1952 là người mất năng lực hành vi dân sự.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trịnh Đình V phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0028052 ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh B.

Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết./.

Cỡ chữ