vanban.org

Quyết định 03/2019/QĐ-TA

TAND TX. Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 21/01/2019 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: NGUYỄN DUY P, sinh năm 1978, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma tuý tỉnh Đắk Lắk.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày Nguyễn Duy P bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: NGUYỄN DUY P, sinh năm 1978, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma tuý tỉnh Đắk Lắk.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 111/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2019/QĐ-TABuôn Hồ, ngày 21 tháng 01 năm 2019.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Ông Cao Anh Tuấn

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Yến

Ngày 21 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 01/2019/QĐ-TA ngày 07/01/2019đối với:

Họ và tên NGUYỄN DUY P; Giới tính nam;

Sinh năm 1978;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Thiên chúa giáo;

Trình độ văn hóa: 4/12;

Nguyên quán: huyện T, tỉnh B;

Hộ khẩu thường trú: phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk;

Chỗ ở: Tổ dân phố 3, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk;

Nghề nghiệp: Làm nông;

Tiền án: Không;

Tiền sự: 01 Tiền sự; bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời gian 03 tháng theo Quyết định số 60/QĐ-UBND ngày 27/9/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

Nhân thân xấu: Ngày 01/4/2013 Ủy ban nhân dân thị xã B đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh vì hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời gian 24 tháng; ngày 23 tháng 3 năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Búk xử phạt 03 tháng 28 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”.

Con ông Nguyễn Huy Ph và bà Phạm Thị S;

Vợ tên Nguyễn Thị M; có 02 con, lớn nhất sinh năm 1999; nhỏ nhất sinh năm 2002.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B, tỉnh Đắk Lắk: Ông La Thành T; Chức vụ: chuyên viên (Văn bản uỷ quyền số 03/GUQ-LĐTBXH ngày 14/01/2019).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ: Bà Ngô Thị Thu Hà

- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Đối tượng Nguyễn Duy P là người sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 27/9/2017 Nguyễn Duy P bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 60/QĐ-UBND ngày 27/9/2018 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường T, thị xã B. Ngày 07/12/2018, P tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý; Công an phường T, thị xã B đã lập biên bản và đưa Nguyễn Duy P đi xét nghiệm chất ma tuý tại Bệnh viện đa khoa thị xã B; kết quả xét nghiệm cho thấy Nguyễn Duy P âm tính với chất Methamphetamine, dương tính với Morphine, là người nghiện ma túy. Uỷ ban nhân dân phường T quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Nguyễn Duy P theo Quyết định số 106/QĐ-UBND ngày 11/12/2018.

Tại phiên họp ngày hôm nay người bị đề nghị Nguyễn Duy P mặc dù được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 19 pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án tiến hành họp vắng mặt Nguyễn Duy P.

- Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B nhận thấy Nguyễn Duy P là đối tượng nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với P trong thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B: Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Duy P quy định tại Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính được Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B thực hiện đ y đủ theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và Tòa án đã thực hiện đúng theo Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Duy P trong thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa đối tượng Nguyễn Duy P vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm: Bản tóm tắt lý lịch, tài liệu và bản tường trình về hành vi vi phạm pháp luật của Nguyễn Duy P; Biên bản xét nghiệm chất ma túy và Phiếu trả lời kết quả về tình trạng nghiện ma túy; Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy và Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường T, thị xã B đối với Nguyễn Duy P; Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường T về việc giao Nguyễn Duy P cho gia đình quản lý; Công văn đề nghị kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ; Văn bản của Phòng tư pháp thị xã B về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ; Văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B và các tài liệu khác có liên quan. Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Duy P đã đ y đủ, đúng quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3, Điều 4, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Điều 35a Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Đối tượng Nguyễn Duy P là người sử dụng trái phép chất ma tuý, theo kết quả xét nghiệm tình trạng ma tuý của Nguyễn Duy P tại Bệnh viện đa khoa thị xã B cho thấy Nguyễn Duy P âm tính với chất Methamphetamine, dương tính với Morphine, là người nghiện ma túy.

Bản thân Nguyễn Duy P có nhân thân xấu, vào ngày 01 tháng 4 năm 2013 đã bị Ủy ban nhân dân thị xã B ban hành quyết định số 1718/QĐ-UBND đưa Nguyễn Duy P vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 tháng; ngày 23 tháng 3 năm 2016, Nguyễn Duy P bị Tòa án nhân dân huyện Krông Búk xử phạt 03 tháng 28 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”. Nguyễn Duy P không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị Uỷ ban nhân dân phường T, thị xã B áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính b ng hình thức giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn Nguyễn Duy P thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không chấp hành nghiêm biện pháp giáo dục tại địa phương, thường tụ tập với các đối tượng nghiện khác trên địa bàn thị xã B. Ngày 07/12/2018, lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bản thân Nguyễn Duy P đã trên 18 tuổi, nhận thức được hành vi sử dụng ma túy của mình là vi phạm pháp luật.

Vì vậy căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhân thân của Nguyễn Duy P và mức thời gian cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B, xét thấy c n thiết phải áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Duy P vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian hợp lý để được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề trở thành người công dân có ích cho xã hội dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định tại Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d, khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3, Điều 4, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Điều 35a Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: NGUYỄN DUY P, sinh năm 1978, tại Cơ sở điều trị cai nghiện ma tuý tỉnh Đắk Lắk.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ ngày Nguyễn Duy P bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thị xã B có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ có quyền kháng nghị Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc Quyết định được Tòa án niêm yết.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an thị xã B, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thị xã B có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định này.

Cỡ chữ