vanban.org

Quyết định 03/2019/QĐ-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 14/03/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của Bà Đỗ Thị X và vợ chồng ông Trương Đình Kh, bà Phan Thị Ngọc Th, sửa Quyết định sơ thẩm.

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Kiện đòi tài sản” giữa nguyên đơn Bà Đỗ Thị X với bị đơn vợ chồng ông Trương Đình Kh, bà Phan Thị Ngọc Th. 2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản — án dân sự — "Bà Đỗ Thị X "Kiện đòi tài sản” vợ chồng ông Trương Đình Kh, bà Phan Thị Ngọc Th."
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Bà Đỗ Thị X và vợ chồng ông Trương Đình Kh, bà Phan Thị Ngọc Th, sửa Quyết định sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2019/QĐ-PTLâm Đồng, ngày 14 tháng 3 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Huỳnh Châu Thạch

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Hữu Nhân

Ông Huỳnh Văn Hiệp

- Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Tâm - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên họp: Bà Võ Thị Kim Anh - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 01/2018/QĐ-ST ngày 25/12/2018 Toà án nhân dân thị trấn T, tỉnh Lâm Đồng đã căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 217, Khoản 2 Điều 218, Khoản 2 Điều 219, Khoản 2 Điều 235 và các Khoản 2, 3 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Kiện đòi tài sản” giữa:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị X, sinh năm: 1957; cư trú tại tổ dân phố 5B, thị trấn T, thị trấn Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Vợ chồng ông Trương Đình Kh, sinh năm: 1970, bà Phan Thị Ngọc Th, sinh năm: 1975; cùng cư trú tại tổ dân phố 5B, thị trấn T, thị trấn Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Tại đơn kháng cáo ngày 02/01/2019 nguyên đơn là Bà Đỗ Thị X không đồng ý với Quyết định nói trên và đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết buộc vợ chồng ông Trương Đình Kh, bà Phan Thị Ngọc Th phải trả cho bà số tiền 4.176.670.150đ.

Tại đơn kháng cáo ngày 02/01/2019 bị đơn là vợ chồng ông Trương Đình Kh, bà Phan Thị Ngọc Th không đồng ý với Quyết định nói trên và đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung Quyết định để đảm bảo công bằng cho vợ chồng ông, bà.

Tại phiên họp,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, về nội dung: đề nghị không chấp nhận kháng cáo của Bà Đỗ Thị X và vợ chồng ông Trương Đình Kh, bà Phan Thị Ngọc Th, giữ nguyên Quyết định sơ thẩm.

XÉT THẤY:

Vào ngày 03/12/2018 Tòa án nhân dân thị trấn Tạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐST-DS ấn định thời gian xét xử vụ án nói trên vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 20/12/2018, Quyết định này đã được tống đạt cho bà Phan Thị Ngọc Th vào lúc 10 giờ 00 phút cùng ngày và tống đạt cho Bà Đỗ Thị X vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 04/12/2018, bà X và bà Th là người ký vào Biên bản tống đạt của Tòa án.

Tại phiên tòa ngày 20/12/2018, do bị đơn vắng mặt lần thứ nhất nên Tòa án cấp sơ thẩm đã hoãn phiên tòa và ban hành Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2018/QĐST-DS ngày 20/12/2018, ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 25/12/2018; Quyết định này đã được tống đạt cho bà Th vào lúc 14 giờ 20 phút ngày 20/12/2018 và tống đạt cho con của bà X là Phan Thanh H vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 24/12/2018 (người nhận đã cam đoan giao lại Quyết định hoãn phiên tòa nói trên cho bà X).

Tại phiên tòa ngày 25/12/2018 do cho rằng nguyên đơn và bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết vụ án nói trên.

Qua xem xét thì thấy rằng khi Tòa án cấp sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử, việc thực hiện thủ tục cấp, tống đạt cho đương sự được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; cả nguyên đơn và bị đơn đều được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên được coi là từ bỏ việc khởi kiện và từ bỏ yêu cầu phản tố, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là đúng với quy định tại các Điểm a, c Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà X kháng cáo cho rằng tại phiên tòa xét xử ngày 25/12/2018 do bị đau chân phải châm cứu nên không có mặt, xét lời trình bày của bà X là không có căn cứ chấp nhận vì bà X không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho lời trình bày của mình, đây cũng không được xem là thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan theo quy định của pháp luật nên không có cơ sở xem xét lời trình bày của đương sự.

Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của pháp luật, đình chỉ việc giải quyết vụ án là có cơ sở nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Bà Đỗ Thị X và vợ chồng ông Trương Đình Kh, bà Phan Thị Ngọc Th.

Theo biểu mẫu số 45-DS Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì tuỳ vào từng trường hợp đình chỉ vụ án cụ thể mà ghi hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (kể cả về tiền tạm ứng án phí), tuy nhiên khi ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa ghi đầy đủ hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điều luật vừa viện dẫn là có thiếu sót, cần sửa lại phần này.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên đương sự phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự cho Bà Đỗ Thị X do là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên,

- Căn cứ Khoản 1, Điểm b Khoản 5 Điều 314, các Điểm a, c Khoản 2 Điều 227, Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của Bà Đỗ Thị X và vợ chồng ông Trương Đình Kh, bà Phan Thị Ngọc Th, sửa Quyết định sơ thẩm.

1.1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Kiện đòi tài sản” giữa nguyên đơn Bà Đỗ Thị X với bị đơn vợ chồng ông Trương Đình Kh, bà Phan Thị Ngọc Th.

1.2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

Quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự của đương sự được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

- Án phí sơ thẩm:

+ Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho Bà Đỗ Thị X.

+ Sung vào công quỹ nhà nước số tiền 44.862.879đ tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm vợ chồng ông Trương Đình Kh, bà Phan Thị Ngọc Th đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0009579 ngày 16/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị trấn Tạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng.

- Án phí phúc thẩm:

+ Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho Bà Đỗ Thị X.

+ Vợ chồng ông Trương Đình Kh, bà Phan Thị Ngọc Th phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0009655 ngày 03/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị trấn Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng ông Kh, bà Th đã nộp đủ án phí.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ