vanban.org

Quyết định 03/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của Bà Vũ Thị T yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

Tuyên bố: Anh Lê Tiến T, sinh năm: 1975; ĐKHKTT và nơi cư trú: Số nhà 5/xx Tuệ Tĩnh, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương là người mất năng lực hành vi dân sự. Giao dịch dân sự của Anh Lê Tiến T là người mất năng lực hành vi dân sự do Bà Vũ Thị T là người giám hộ đương nhiên xác lập, thực hiện theo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Bà Vũ Thị T yêu cầu tuyên bố anh Lê Tiến T mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của Bà Vũ Thị T yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2018/QĐDS-ST
Ngày: 20/6/2018
V/v: “Yêu cầu tuyên bố một người
mất năng lực hành vi dân sự”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H - TỈNH HẢI DƯƠNG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

- Chủ tọa phiên họp: Bà Đinh Thị Thúy Hạnh - Thẩm phán.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2018/TLST- VDS ngày 02 tháng 5 năm 2018 về yêu cầu: “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2018/QĐ-TA ngày 05 tháng 6 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Vũ Thị T, sinh năm: 1945. Có mặt.

2. Người bị yêu cầu: Anh Lê Tiến T, sinh năm: 1975. Vắng mặt.

Đều ĐKHKTT và nơi cư trú: Số nhà 5/xx Tuệ Tĩnh, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Bà Vũ Thị T yêu cầu tuyên bố Anh Lê Tiến T, sinh năm: 1975 (là con trai bà); ĐKHKTT và nơi cư trú: Số nhà 5/xx Tuệ Tĩnh, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố H nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Bà Vũ Thị T có đơn yêu cầu tuyên bố Anh Lê Tiến T, sinh năm 1975; ĐKHKTT và nơi cư trú: Số nhà 5/xx Tuệ Tĩnh, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương mất năng lực hành vi dân sự và cử bà là người giám hộ đương nhiên cho Anh Lê Tiến T. Đây là yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét đơn yêu cầu, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp Bà Vũ Thị T trình bày: Bà kết hôn với ông Lê Văn C và sinh được 4 người con chung. Ông Lê Văn C đã chết ngày 12/8/1995. Ông bà có người con thứ tư là Anh Lê Tiến T khi sinh ra hoàn toàn bình thường nhưng được hai tháng tuổi do bị sốt cao, co giật, dẫn đến thần kinh, thể lực và sức khỏe có vấn đề và phát triển không bình thường. Mặc dù đã được gia đình đưa đi khám chữa bệnh ở rất nhiều nơi và rất nhiều năm nhưng bệnh tình vẫn không khỏi. Đến nay, tình trạng của Anh Lê Tiến T không có khả năng nhận thức được hành vi của mình, không biết nói, không thể tự đi lại, ăn uống sinh hoạt được phải có người phục vụ. Anh T không kết hôn với ai, đã được chính quyền địa phương xác nhận tình trạng hôn nhân. Từ trước đến nay, bà là người trực tiếp chăm sóc con, ngoài bà ra không có ai khác chăm sóc, nuôi dưỡng anh T. Hiện, Anh T chưa được hưởng bất cứ một chế độ gì đối với sức khỏe của anh. Anh T không có tài sản gì riêng mang tên anh. Ngày 15/5/2018, Bà Vũ Thị T có đơn đề nghị trưng cầu giám định sức khỏe tâm thần đối với Anh Lê Tiến T. Cùng ngày, Tòa án nhân dân thành phố H đã ra quyết định trưng cầu Bệnh viện tâm thần trung ương I - Bộ y tế, giám định sức khỏe tâm thần của Anh Lê Tiến T. Gia đình Anh T đã đưa Anh T đến Bệnh viện tâm thần TWI - Bộ Y tế để giám định sức khỏe tâm thần cho anh. Tại Biên bản giám định sức khỏe tâm thần số 67/KHTH-BV ngày 28/5/2018 của Bệnh viện tâm thần TWI

- Bộ y tế kết luận: “Anh Lê Tiến T mắc chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (mã bệnh theo ICD 10: F72)/TD Động kinh.

Bệnh tiến triển mạn tính, mất năng lực nhận thức, điều khiển hành vi dân sự”.

Vì vậy, để thuận lợi cho việc giao dịch dân sự của các thành viên trong gia đình, để có người có thể thực hiện mọi giao dịch dân sự thay, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho Anh Lê Tiến T là con trai bà, bà đề nghị Tòa án tuyên bố Anh Lê Tiến T mất năng lực hành vi dân sự và cử bà là người giám hộ đương nhiên cho anh T.

Tại phiên họp, người yêu cầu là Bà Vũ Thị T giữ nguyên quan điểm như đã trình bày và xác định: Do tình trạng thực tế của Anh T như vậy, đã được cơ quan chuyên môn có thẩm quyền kết luận, để thuận lợi cho việc giao dịch dân sự của các thành viên trong gia đình, để có người có thể thực hiện mọi giao dịch dân sự thay thế Anh T và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho anh T, bà T đề nghị Tòa án tuyên bố Anh Lê Tiến T mất năng lực hành vi dân sự và cử bà là người giám hộ đương nhiên cho anh T.

Căn cứ khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Toà án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháy y tâm thần”.

Do đó, Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của Bà Vũ Thị T về việc tuyên bố Anh Lê Tiến T mất năng lực hành vi dân sự và cử bà là người giám hộ đương nhiên của anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48; Điều 363; Điều 365; khoản 2 Điều 366; Điều 376; Điều 377 và Điều 378; Thư ký Tòa án chấp hành đúng theo Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành các thủ tục đúng theo quy định của Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, người yêu cầu đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ theo đơn yêu cầu tuyên bố Anh Lê Tiến T mất năng lực hành vi dân sự của Bà Vũ Thị T và căn cứ vào kết luận tại Biên bản giám định sức khỏe tâm thần số 67/KHTH-BV ngày 28/5/2018 của Bệnh viện tâm thần TWI - Bộ y tế kết luận: “Anh Lê Tiến T mắc chậm phát triển tâm thần mức độ nặng (mã bệnh theo ICD 10: F72)/TD Động kinh.

Bệnh tiến triển mạn tính, mất năng lực nhận thức, điều khiển hành vi dân sự”.

Về mặt pháp luật: Do Anh Lê Tiến T mất năng lực nhận thức, điều khiển hành vi dân sự như kết luận giám định nên việc Bà Vũ Thị T đề nghị Toà án tuyên bố Anh T mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ và được chấp nhận. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của Bà Vũ Thị T yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

Tuyên bố: Anh Lê Tiến T mất năng lực hành vi dân sự. Cử Bà Vũ Thị T là người giám hộ đương nhiên của Anh Lê Tiến T theo quy định tại các Điều 27; 362; 363; 369; 370; 372; 376; 377 và 378 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 22; 25; 46; 47; 49; 53 và 59 Bộ luật dân sự.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Bà Vũ Thị T, sinh năm 1945 là người cao tuổi đã trên 60 tuổi nên bà được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; các Điều 362; 363; 365; 366; 369; 370; 371; 372; 376; 377 và Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ các Điều 22; 25; 46; 47; 53; 59 của Bộ luật Dân sự năm 2015; căn cứ Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của Bà Vũ Thị T yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.

Tuyên bố: Anh Lê Tiến T, sinh năm: 1975; ĐKHKTT và nơi cư trú: Số nhà 5/xx Tuệ Tĩnh, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương là người mất năng lực hành vi dân sự.

Giao dịch dân sự của Anh Lê Tiến T là người mất năng lực hành vi dân sự do Bà Vũ Thị T là người giám hộ đương nhiên xác lập, thực hiện theo quy định của pháp luật.

2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1945 là người cao tuổi đã trên 60 tuổi nên bà được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết./.

Cỡ chữ