vanban.org

Quyết định 03/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ Tuyên án 12/06/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị B về việc tuyên bố cụ Nguyễn Thị T (sinh năm 1925), bà Huỳnh Lệ M (sinh năm 1945), bà Huỳnh Thị N (sinh năm 1952), bà Huỳnh Kim H (sinh năm 1957), bà Huỳnh Kim H1 (sinh năm 1958), bà Huỳnh Thị Hồng V (sinh năm 1961), ông Huỳnh Tấn Đ (sinh năm 19…

Ngày chết của cụ Nguyễn Thị T, bà Huỳnh Lệ M, bà Huỳnh Thị N, bà Huỳnh Kim H, bà Huỳnh Kim H1, bà Huỳnh Thị Hồng V, ông Huỳnh Tấn Đ và bà Huỳnh Thị Kim T1 là ngày 13 tháng 7 năm 2016 (Ngày mười ba, tháng bảy, năm hai nghìn không trăm mười sáu). Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của cụ T, bà M,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Huỳnh Thị B yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị B về việc tuyên bố cụ Nguyễn Thị T (sinh năm 1925), bà Huỳnh Lệ M (sinh năm 1945), bà Huỳnh Thị N (sinh năm 1952), bà Huỳnh Kim H (sinh năm 1957), bà Huỳnh Kim H1 (sinh năm 1958), bà Huỳnh Thị Hồng V (sinh năm 1961), ông Huỳnh Tấn Đ (sinh năm 19…
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN Ô MÔN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2018/QĐDS-ST
Ngày: 12-6-2018.
V/v: Tuyên bố một người là đã chết

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ.

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Trần Thanh Thế - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Phan Thị Như Ngọc - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên họp:

Bà Trần Cẩm Tú - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 144/2017/TLST-VDS ngày 26 tháng 12 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số: 36/2018/QĐMPH-VDS ngày 28 tháng 5 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1954.

Địa chỉ: Số 28, đường Thủ Khoa Huân, phường Tân An, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1960. Là người đại diện theo uỷ quyền của người yêu cầu (Văn bản ủy quyền ngày 24/01/2018)

Địa chỉ: Số 37, đường B29 Khu dân cư 91B, khu vực 6, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)

2. Người bị yêu cầu tuyên bố chết:

- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1925.

- Bà Huỳnh Lệ M, sinh năm 1945.

- Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1952.

- Bà Huỳnh Kim H, sinh năm 1957.

- Bà Huỳnh Kim H1, sinh năm 1958.

- Bà Huỳnh Thị Hồng V, sinh năm 1961.

- Ông Huỳnh Tấn Đ, sinh năm 1962.

- Bà Huỳnh Thị Kim T1, sinh năm 1964.

Nơi cư trú cuối cùng: Ấp X, xã T, huyện P, tỉnh Phong Dinh. Nay là: Khu vực X2, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Tại Đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết ngày 03/10/2017, người yêu cầu là bà Huỳnh Thị B trình bày:

Cha mẹ của bà Huỳnh Thị B là cụ Nguyễn Thị T (sinh năm 1925) và cụ Huỳnh Tấn Đ1 (sinh năm 1925) có 08 người con gồm: Huỳnh Lệ M (sinh năm 1945), Huỳnh Thị N (sinh năm 1952), Huỳnh Thị B (sinh năm 1954), Huỳnh Kim H (sinh năm 1957), Huỳnh Kim H1 (sinh năm 1958), Huỳnh Thị Hồng V (sinh năm 1961), Huỳnh Tấn Đ (sinh năm 1962) và Huỳnh Thị Kim T1 (sinh năm 1964).

Năm 1976, cụ Đ1 chết. Đến năm 1978, cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1 cùng đi tàu vượt biên sang Pháp nhưng tàu gặp tai nạn và mất tích. Sau đó, bà B đã cố gắng tìm kiếm bằng mọi cách suốt nhiều năm liền vẫn không có tin tức gì về những người thân này.

Đến năm 2013, bà B có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1. Theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2013/VDS ngày 12/7/2013, Tòa án nhân dân quận Ô Môn đã chấp nhận yêu cầu của bà B, tuyên bố những người nêu trên mất tích. Và cho đến nay, bà B vẫn không có được bất cứ tin tức gì của những người thân nêu trên mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm.

Nay bà B yêu cầu Tòa án tuyên bố cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1 là đã chết để bà B hoàn chỉnh hồ sơ thừa kế đất đai theo quy định.

Tại phiên họp hôm nay:

- Ông Nguyễn Hữu K là người đại diện hợp pháp của bà Huỳnh Thị B vẫn giữ nguyên yêu cầu về việc tuyên bố một người là đã chết đối với cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1 (nơi cư trú cuối cùng tại ấp X, xã T, huyện P, tỉnh Phong Dinh. Nay là khu vực X2, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ). Tại thời điểm mất tích vào năm 1978, các chị em của bà B đều chưa kết hôn và chưa có con.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Tòa án thụ lý việc dân sự đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Thẩm phán được phân công có thực hiện việc thu thập chứng cứ theo quy định.

+ Về nội dung: Sau khi đánh giá, phân tích nội dung việc dân sự, đã đủ cơ sở xác định cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1 đã biệt tích khoảng 40 năm, hiện nay vẫn không có tin tức xác thực những người này còn sống. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 371 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 369, 370 và 393 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị B: Tuyên bố cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1 đã chết. Đồng thời căn cứ vào Khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự để xác định ngày chết của những người nêu trên là ngày 13/7/2016.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ô Môn nhận định:

Bà Huỳnh Thị B có quan hệ huyết thống với cụ Nguyễn Thị T, bà Huỳnh Lệ M, bà Huỳnh Thị N, bà Huỳnh Kim H, bà Huỳnh Kim H1, bà Huỳnh Thị Hồng V, ông Huỳnh Tấn Đ và bà Huỳnh Thị Kim T1. Trong quá trình vượt biên sang Pháp, những người thân này của bà B đã gặp tai nạn và biệt tích từ năm 1978. Bà B đã cố gắng tìm kiếm trong nhiều năm liền nhưng vẫn không có tin tức gì của mẹ và các chị, em của bà B.

Trong quá trình giải quyết việc dân sự, ngày 18/01/2018, Tòa án đã ra Quyết định số 01/2018/QĐ-DS về việc thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1. Quyết định trên đã được đăng phát trên Kênh VTV9 - Đài Truyền hình Việt Nam vào các ngày 25, 26, 27 tháng 01 năm 2018; Báo Lao động vào các ngày 24, 25, 26 tháng 01 năm 2018 và đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án theo quy định. Đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng mà vẫn không có tin tức xác thực về việc những người này còn sống.

Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2013/VDS ngày 12/7/2013, Tòa án nhân dân quận Ô Môn đã tuyên bố cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1 mất tích. Như vậy, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật cho đến nay đã hơn 03 năm, vẫn không có tin tức xác thực những người này còn sống. Do đó, yêu cầu của bà B về việc tuyên bố cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1 là đã chết là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015.

Đối với việc xác định ngày chết của người bị yêu cầu tuyên bố chết:

Quyết định tuyên bố mất tích đối với cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1 có hiệu lực từ ngày 12/7/2013. Do đó, căn cứ Khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015 thì ngày chết của những người nêu trên được xác định là 03 năm sau kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật. Như vậy ngày chết của cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1 được xác định là ngày 13/7/2016.

Từ những phân tích trên cho thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn phù hợp với nhận định của Toà án nên được chấp nhận.

Bà Huỳnh Thị B phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 4 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 391 và Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 68, Điều 71 và Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị B về việc tuyên bố cụ Nguyễn Thị T (sinh năm 1925), bà Huỳnh Lệ M (sinh năm 1945), bà Huỳnh Thị N (sinh năm 1952), bà Huỳnh Kim H (sinh năm 1957), bà Huỳnh Kim H1 (sinh năm 1958), bà Huỳnh Thị Hồng V (sinh năm 1961), ông Huỳnh Tấn Đ (sinh năm 1962) và bà Huỳnh Thị Kim T1 (sinh năm 1964) có nơi cư trú cuối cùng tại ấp X, xã T, huyện P, tỉnh Phong Dinh (nay là khu vực X2, phường T, quận M, thành phố Cần Thơ) là đã chết.

2. Ngày chết của cụ Nguyễn Thị T, bà Huỳnh Lệ M, bà Huỳnh Thị N, bà Huỳnh Kim H, bà Huỳnh Kim H1, bà Huỳnh Thị Hồng V, ông Huỳnh Tấn Đ và bà Huỳnh Thị Kim T1 là ngày 13 tháng 7 năm 2016 (Ngày mười ba, tháng bảy, năm hai nghìn không trăm mười sáu).

3. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1 được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của cụ T, bà M, bà N, bà H, bà H1, bà V, ông Đ và bà T1 được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Huỳnh Thị B phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí theo Biên lai thu tạm ứng lệ phí số 001648 ngày 22/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn thành lệ phí (đương sự đã nộp xong).

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định, người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đươc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ