vanban.org

Quyết định 03/2018/QĐ-XLHC

TAND TP. Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 18/06/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 13 tháng (Mười ba tháng), kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có q…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ S
TỈNH Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 03/2018/QĐ-XLHCS, ngày 18 tháng 6 năm 2018

QUYEÁT ÑÒNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THÀNH PHỐ S

Vôùi thaønh phaàn tiến hành phiên họp goàm coù:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Bé Mười

Thư ký phiên họp: Ông Phạm Hoàng Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố S.

Ngày 18 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Đ tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 03/QĐ-TA ngày 11 tháng 6 năm 2018 đối với:

Đối với: Nguyễn Thành T

Sinh năm: 1997

CMND số: 341 849 944

Ngày cấp: 03/3/2015

Nghề nghiệp: Không

ĐKTT: khóm T, phường A, Tp. S, tỉnh Đ.

Nơi ở hiện nay: khóm T, phường A, Tp. S, tỉnh Đ.

Con ông Nguyễn Văn L (chết) và bà Nguyễn Tô H

Tiền án, tiền sự: Không.

Nguyễn Thành T vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham giam của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố S

Đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Văn Hải – Chức vụ: Trưởng phòng

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc Dũng – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S: Ông Nguyễn Quốc Hòa – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 08/5/2018 Đội CSĐTTP về HS, KT, MT- Công an thành phố S mời làm việc đối với Nguyễn Thành T. Qua làm việc và kiểm tra nước tiểu bằng thanh thử FASTEP cho kết quả dương tính với chất ma túy và Tài đã thừa nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an thành phố S có Công văn số 167/CV-CATP (ĐTTP) ngày 08/5/2018 về việc đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy tại Trung tâm y tế huyện Châu Thành, tỉnh Đ.

Ngày 12 tháng 5 năm 2018, Trung tâm y tế huyện Châu Thành, tỉnh Đ có phiếu trả lời kết quả số 26/TLKQ xác định Nguyễn Thành T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng: Dương tính với chất kích thích tổng hợp Methamphetamine (MET) và Amphetamine.

Qua xác minh, trước đó vào ngày 18 tháng 12 năm 2017, Nguyễn Thành T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ra quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 15/01/2018 về việc “Áp dụng biện pháp giáo dục tại phường A”, thời hạn giáo dục tại Phường là 03 tháng kể từ ngày 15/01/2018 đến ngày 15/4/2018. Đến ngày 15/4/2018, Nguyễn Thành T được cấp Giấy chứng nhận số 45/GCN-UBND về việc "Đã chấp hành xong quyết định giáo dục tại phường".

Tuy nhiên đến ngày 07/5/2018, Nguyễn Thành T lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy với hình thức là hút. Ngày 29/5/2018, Công an thành phố S đề nghị Phòng Tư pháp thành phố S kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành T. Kết luận tại Thông báo số 70/TB-PTP ngày 01/6/2018 của Phòng Tư pháp thành phố S kết luận: Hồ sơ đề nghị đã đảm bảo về tính pháp lý.

Xét thấy hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thành T đã vi phạm vào Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 136/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ đã đủ điều kiện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên ngày 06/6/2018, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S đã ban hành văn bản số 146/LĐTBXH đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 136/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ.

- Nơi chấp hành áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đ.

- Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 18 tháng.

Tại phiên họp, người đại diện của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố S đã giữ nguyên đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành T tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đ, thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng.

Người bị đề nghị: Nguyễn Thành T qua làm việc thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ra quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 15/01/2018 về việc “Áp dụng biện pháp giáo dục tại phường A”, thời hạn giáo dục tại Phường là 03 tháng kể từ ngày 15/01/2018 đến ngày 15/4/2018 nhưng đến ngày 07/5/2018 Nguyễn Thành T lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S phát biếu ý kiến:

Về trình tự thủ tục tố tụng: Thụ lý, giải quyết vụ việc được Tòa án thực hiện đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng tuân thủ chấp hành quy định pháp luật.

Về nội dung đề nghị Tòa án: áp dụng Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012

Chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành T từ 12 tháng đến 18 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, kiểm sát viên và người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

Về trình tự lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc phù hợp quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Qua làm việc, người bị đề nghị Nguyễn Thành T thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và trình trạng nghiện của mình. Lời khai của người bị đề nghị phù hợp với lời trình bày của cơ quan đề nghị và các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ.

Qua đó đủ cơ sở xác định: Nguyễn Thành T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chất kích thích tổng hợp Methamphetamine (MET) và Amphetamine bị Công an thành phố S phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính ngày 08/5/2018. Cơ quan có thẩm quyền là Trung tâm y tế huyện Châu Thành, tỉnh Đ cũng đã xác định tình trạng nghiện ma túy của Nguyễn Thành T.

Theo Danh mục II ban hành kèm Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ được bổ sung bởi Nghị định 126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015, thì Methamphetamine (MET) và Amphetamine là một trong những chất ma túy, chất hướng thần độc hại, bị cấm sử dụng trái phép,… các chất này chỉ được sử dụng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm, trong lĩnh vực y tế và phải theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.

Nguyễn Thành T là người đã thành niên nên có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần,… là chất độc hại. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép …, vì ma tuý sẽ làm ảnh hưởng đến tinh thần, sức khoẻ, ý chí phấn đấu của người sử dụng. Thế nhưng, Nguyễn Thành T vẫn sử dụng và trở thành đối tượng nghiện nên đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường A ra quyết định “áp dụng biện pháp giáo dục tại phường A”, lẽ ra trong thời gian giáo dục tại Phường, Tài phải biết tự phấn đấu, cố gắng cai nghiện và lao động làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật chất, phục vụ cho nhu cầu của bản thân, phụ giúp gia đình. Tuy nhiên, với lối sống buông thả, thích hưởng thụ, Tài vẫn còn nghiện ma túy và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 07/5/2018.

Hành vi của Nguyễn Thành T đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi đó là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, cướp giật …, góp phần làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương .

Từ những phân tích trên cho thấy hành vi của Nguyễn Thành T đã đủ để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tại Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính đã quy định:

“1. Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định ”.

Xét thấy qua làm việc Nguyễn Thành T đã thừa nhận hành vi sử dụng ma túy, không tranh luận, không bào chữa. Xét thấy, phát biểu của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên tại phiên họp là đúng người, đúng tính chất, hành vi vi phạm của Nguyễn Thành T. Do đó, Tòa án xét thấy cần phải áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Thành T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để điều trị, lao động, giáo dục, tạo điều kiện cho Tài cai nghiện để trở thành người công dân tốt, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình làm việc Nguyễn Thành T khai báo thành khẩn, thành thật hối lỗi, nghĩ nên áp dụng Khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính để giảm nhẹ một phần mức thời gian áp dụng đối với Tài.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thành T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 13 tháng (Mười ba tháng), kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Đ phối hợp với Công an thành phố S. Nôi nhaän:

THAÅM PHAÙN

- Nguyễn Thành T;

- Công an TP S ;

- Phòng LĐ-TB-XH TP S;

- UBND phường A, TP S;

- Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đ;

- Viện Kiểm sát nhân dân TP S;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Bé Mười

Cỡ chữ