- Tranh chấp gì? Các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng — án dân sự — "Rút ngắn thời gian thử thách của án treo"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Yên Dũng về việc rút ngắn thời gian thử thách của án treo.
- Căn cứ chính? Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 66 Bộ luật Hình sự; Điều 66 Luật Thi hành án hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẮC GIANG ________ Số: 03/2018/QĐ - TA | Yên Dũng, ngày 09 tháng 02 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Rút ngắn thời gian thử thách của án treo
__________________________________________
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG
Với Hội đồng xét rút ngắn thời gian thử thách của án treo gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Vũ Tân Thịnh.
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Hương và ông Nguyễn Văn Toản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên họp: Bà Trịnh Thị Thanh, Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Người bị xử phạt tù được hưởng án treo đang chịu thử thách tại xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Ngày 25/01/2018, cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Yên Dũng có văn bản số: 11/ĐN - CQTHAHS đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo đối với bị án Lương Đức T, sinh năm 1970; STQ: Thôn C, xã D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng phát biểu ý kiến: Người được hưởng án treo là Lương Đức T đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách của án treo, có nhiều tiến bộ, chấp hành tốt đường lối, chích sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương, nên được UBND xã D và Cơ quan thi hành án hình sự-Công an huyện Yên Dũng đề nghị rút ngắn thời gian thử thách. Xét thấy Lương Đức T đáp ứng đủ điều kiện để được rút ngắn thời gian thử thách của án treo theo quy định tại Điều 4 thông tư liên tịch số: 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Toà án nhân dân Tối Cao và Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao về hướng dẫn rút ngắn thời gian thử thách của án treo thì người bị xử phạt tù được hưởng án treo tính đến ngày mở phiên họp 09/02/2018 đã chấp hành được được 20 tháng 27 ngày, thời gian thử thách còn lại là 09 tháng 03 ngày. Xong trong Quyết định thi hành án phạt tù cho hưởng án treo số: 15/2016/QĐ-CA ngày 31/5/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tại điều 1 có ghi “…Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 70/HSST ngày 13/5/2016 của Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.” Việc quyết định trên ghi sai tháng của bản án số: 70/HSST ngày 13/4/2016 là ảnh hưởng đến thời gian chấp hành án của bị án, do vậy đề nghị không chấp nhận rút ngắn thời gian thử thách của án treo đối với người bị kết án Lương Đức T.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ đề nghị xét rút ngắn thời gian thử thách của án treo đối với người bị xử phạt tù được hưởng án treo.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân nhân huyện Yên Dũng phát biểu ý kiến.
XÉT THẤY:
Việc đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo với lý do bị án Lương Đức T đã chấp hành được 20 tháng 27 ngày (từ ngày 13/4/2016 đến ngày mở phiên họp 09/02/2018) hơn một phần hai thời gian thử thách của án treo và có nhiều tiến bộ; thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của người được hưởng án treo; chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước; thành thực hối cải, tích cực lao động, học tập và sửa chữa lỗi lầm; thực hiện đầy đủ các hình phạt bổ sung và nghĩa vụ khác theo quyết định của bản án; được cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Yên Dũng và Uỷ ban nhân dân xã D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang có trách nhiệm giám sát, giáo dục đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo bằng văn bản.
Tuy nhiên vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng cho rằng tại Quyết định thi hành án phạt tù cho hưởng án treo số: 15/2016/QĐ-CA ngày 31/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tại điều 1 có ghi “Thi hành án hình phạt: 15 (mười năm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày 13/4/2016. Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 70/HSST ngày 13/5/2016 của Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.” Việc quyết định trên ghi sai tháng của bản án số: 70/HSST ngày 13/4/2016 là ảnh hưởng đến thời gian chấp hành án của bị án, do vậy đề nghị không chấp nhận rút ngắn thời gian thử thách của án treo đối với người bị kết án Lương Đức T. Căn cứ vào bản án số: 70/HSST ngày 13/4/2016 của Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa; Quyết định ủy thác thi hành án hình sự số: 22/2016/QĐ-CA ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa cũng như bản tự nhận xét chấp hành án, quá trình chấp hành án của bị án Lương Đức T có xác nhận của Công an xã D thể hiện bị án Lương Đức T chấp hành án từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/4/2016, hơn nữa ngày 06/02/2018 Chánh án Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã ban hành thông báo đính chính quyết định thi hành án hình phạt tù số: 01/2018/TB về việc có nhầm lẫn về tháng của bản án : 70/HSST ngày 13/4/2016 của Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Do vậy việc trong quyết định thi hành án nêu trên có ghi nhầm tháng của bản án không ảnh hưởng gì đến quá trình chấp hành án của bị án Lương Đức T.
Theo hướng dẫn tại Điều 4; điểm b khoản 5 Điều 6 Thông tư liên tịch số: 08/2012/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/8/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Toà án nhân dân Tối Cao và Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao về hướng dấn rút ngắn thời gian thử thách của án treo thì người bị xử phạt tù được hưởng án treo có đủ điều kiện để rút ngắn thời gian thử thách.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 60; khoản 5 Điều 66 Bộ luật hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 66 Luật Thi hành án hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Yên Dũng về việc rút ngắn thời gian thử thách của án treo.
2. Rút ngắn thời gian thử thách của án treo là 06 (Sáu) tháng. Thời gian thử thách bị án Lương Đức T phải chấp hành còn lại là 03 (Ba) tháng 03 (Ba)) ngày kể từ ngày 09/02/2018.
Cho người bị xử phạt tù được hưởng án treo:
Lương Đức T, sinh năm 1970.
STQ: Thôn C, xã D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Con ông Lương Đức M, sinh năm 1940 và bà Vũ Thị N, sinh năm 1941.
Bị xử phạt 15 (mười năm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13 tháng 4 năm 2016.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 70/HSST ngày 13 tháng 4 năm 2016 của Toà án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.
3. Quyết định này có hiệu lực sau mười lăm ngày kể từ ngày ra quyết định trong trường hợp Viện kiểm sát không có kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Người được hưởng án treo; - Cơ quan THAHS Công an huyện Yên Dũng; - Viện kiểm sát huyện Yên Dũng; - UBND xã Đồng Phúc; - Toà án tỉnh Bắc Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Lưu hồ sơ thi hành án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT RÚT NGẮN THỜI GIAN THỬ THÁCH CỦA ÁN TREO THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP Vũ Tân Thịnh |