vanban.org

Quyết định 03/2017/QĐDS-ST — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 20/12/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị M.

Tuyên bố chị Hà Thị N, sinh năm 1967; Phố A, thị trấn D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú cuối cùng: Phố A, thị trấn D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang là đã chết. Ngày chết của chị Hà Thị N là ngày quyết định có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Bà Nguyễn Thị M yêu cầu tuyên bố chị Hà thị N là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN DŨNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC GIANG
______________
Số: 03/2017/QĐDS-ST
Ngày 20 tháng 12 năm 2017
V/v “Tuyên bố một người là đã chết”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG

Thành phần giải quyết việc dân sự:

- Chủ toạ phiên họp: Ông Vũ Tân Thịnh.

- Thư ký phiên họp: Bà Lương Thị Nhẫn - Thư ký TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên họp: Ông Vũ Hồng Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số:01/2017/TLST- DS ngày 09 tháng 6 năm 2017 theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2017/QĐPH- VDS ngày 05 tháng 12 năm 2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1958;

Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

2. Người bị yêu cầu:

Chị Hà Thị N, sinh năm 1967; Sinh quán: Phố A, thị trấn D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú cuối cùng: Phố A, thị trấn D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Bà Nguyễn Thị M yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Hà Thị N, sinh năm 1967 Sinh quán: Phố A, thị trấn D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú cuối cùng: Phố A, thị trấn D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang là đã chết.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị M yêu cầu tuyên bố chị Hà Thị N, sinh năm 1967; Phố A, thị trấn D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú cuối cùng: Phố A, thị trấn D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang là đã chết. Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Về yêu cầu của đương sự: Theo đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị M, các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện; Do có quan hệ quen biết nên vào cuối năm 2007 bà M có cho chị Hà Thị N và anh Nguyễn Bá k vay 360.000.000đ, chị N, anh k hẹn sau một tháng trả, đến hẹn chị N và anh K không trả, bà đã đòi nhiều lần nhưng chị N và anh K khất nợ không trả nên bà đã khởi kiện ra tòa. Tại bản án số: 26/2008/DSST ngày 08/10/2008 Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng đã tuyên buộc chị Hà Thị N và anh Nguyễn Bá K trả bà số tiền 375.000.000đ

Nhưng thực tế chị Hà Thị N và anh Nguyễn Bá K đã bỏ đi khỏi địa phương từ ngày 28/3/2008 không có tin tức gì, chính bởi vậy bà đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng tuyên bố chị N, anh K mất tích. Tại quyết định số: 02/2013/DSST ngày 19/7/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng tuyên đã tuyên bố chị N và anh K mất tích. Kể từ khi tuyên bố mất tích cho đến nay chị N và anh K không có mặt tại địa phương, do vậy ngày 07/6/2017 bà làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố chị N và anh K là đã chết. Tại biên bản làm việc với Công an thị trấn D, huyện Yên Dũng xác định chị Hà Thị N và anh Nguyễn Bá K vắng mặt tại địa phương từ năm 2008 cho đến nay. Qua kiểm tra sổ đăng ký hộ khẩu, tạm vắng tạm trú từ năm 2004 cho đến nay thì anh Nguyễn Bá K không có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu, tạm vắng tạm trú do địa phương quản lý, do vậy bà Nguyễn Thị M đã rút một phần yêu cầu về việc tuyên bố anh Nguyễn Bá K là đã chết. Tại phiên họp bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu trên. Xét thấy việc rút yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Bá K là đã chết là phù hợp với điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án không xem xét.

Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng đã quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với chị Hà Thị N số: 01/TB-TA ngày 14/7/2017. Quyết định này đã được đăng trên báo Công Lý và Đài tiếng nói Việt Nam ba số liên tiếp theo quy định tại các Điều 384, 385, khoản 2 Điều 388 và khoản 1, 2, 3 Điều 392 của Bộ luật tố tụng dân sự, ngày đăng, phát sóng đầu tiên là ngày 26/7/2017, ngày đăng, phát sóng cuối cùng là ngày 02/8/2017/2017 nhưng cho đến nay không có tin tức xác thực về việc chị Hà Thị N là còn sống hay đã chết. Như vậy sau 04 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không tin tức xác thực chị Hà Thị N là còn sống hay đã chết, nên có căn cứ xác định chị Hà Thị N là đã chết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự.

Xác định ngày chết của chị Hà Thị N là ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.

Theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật dân sự thì khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với với người đã chết; Tài sản của chị N (Nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật thừa kế.

Về lệ phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự; Điều 150 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bà Mỹ phải chịu 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng phát biểu ý kiến về tố tụng, quá trình giải quyết việc dân sự: Tòa án đã chấp hành đúng các quy định về tố tụng dân sự về thụ lý việc dân sự, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật và tư cách người tham gia tố tụng, đúng thời hạn. Hồ sơ đủ điều kiện để Tòa án mở phiên họp và ra quyết định mở phiên họp yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự; Khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 150, 361, 362, 366, 370, 371, 372, 384, 385, 391, 392 và Điều 393 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị M.

Tuyên bố chị Hà Thị N, sinh năm 1967; Phố A, thị trấn D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú cuối cùng: Phố A, thị trấn D, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang là đã chết.

Ngày chết của chị Hà Thị N là ngày quyết định có hiệu lực pháp luật.

Quan hệ hôn nhân gia đình và các quan hệ nhân thân khác về nhân thân của Chị Hà Thị N được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của chị Hà Thị N được giải quyết như đối với người đã chết;

Tài sản của chị Hà Thị N được giải quyết theo quy định của pháp luật thừa kế.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà đã nộp tại biên lai thu số: AA/2010/000898 ngày 09 tháng 6 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng (xác nhận bà M đã nộp đủ lệ phí).

Người yêu cầu có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ