- Tranh chấp gì? "Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật xử lý hành chính; Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 03/2017/QĐ-TA. | B, ngày 02 tháng 8 năm 2017. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần tiến hành phiên họp:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Huỳnh Định Tình
Thư ký ghi biên bản cuộc họp: Ông Đinh Ngọc Lương – Thư ký Tòa án.
Ngày 02 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2017/QĐ-TA ngày 21/7/2017 và Quyết định hoãn phiên họp số: 01/2017/QĐST-HPH ngày 28/7/2017, đối với:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Đ; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/03/1988, tại huyện A – tỉnh Bình Định; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nguyên quán: xã N, huyện A, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Làm nông
Thường trú tại: Thôn S, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Con ông Nguyễn Ngọc A và con bà Lương Thị Mỹ X.
Người bị đề nghị Nguyễn Ngọc Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B. Đại diện theo pháp luật: Ông Y S – Chức vụ: Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B: Ông Nguyễn Tuấn Anh – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 07/9/2016, Công an huyện Buôn Đôn phát hiện Nguyễn Ngọc Đ có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy và đưa đi xét nghiệm. Qua xét nghiệm, Bệnh viện đa khoa Thành phố B kết luận Nguyễn Ngọc Đ là người sử dụng ma túy, tên loại ma túy mà Nguyễn Ngọc Đ sử dụng có tên là Amphetamin và Methaphentamin. Công an xã E huyện B lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với Nguyễn Ngọc Đ. Ngày 18/10/2016, UBND xã E, huyện B ban hành Quyết định số 158/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng đối với Nguyễn Ngọc Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Sau khi bị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương, đến ngày 23/6/2017, Nguyễn Ngọc Đ tiếp tục sử dụng chất ma túy đá bằng hình thức hút. Cơ quan cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Buôn Đôn đã lập biên bản hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đưa Nguyễn Ngọc Đ đến bệnh viện Đa khoa Thành phố B xét nghiệm. Kết quả xét nghiệm ngày 23/6/2017 cho thấy Nguyễn Ngọc Đ vẫn nghiện ma túy và dương tính với Amphetamin và Methaphentamin.
Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động thương binh và xã hội huyện B đề nghị: Nguyễn Ngọc Đ có nơi cư trú ổn định tại Thôn S, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, là đối tượng để áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét nhân thân của Nguyễn Ngọc Đ, bị chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã E, huyện B ra Quyết định số 158/QĐ-UBND, ngày 18/10/2016 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 18/10/2016 đến ngày 18/01/2017, sau khi chấp hành xong quyết định giáo dục tại địa phương cho đến ngày 23/6/2017 thì lại tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Sau khi bị lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Nguyễn Ngọc Đ đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc Đ với thời hạn là 12 tháng.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B khẳng định: Quá trình chuẩn bị và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng các quy định pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và đề nghị chấp nhận yêu cầu đề nghị của đại diện cơ quan Phòng Lao động – Thương binh xã hội huyện B.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ, căn cứ kết quả tại phiên họp, ý kiến của những người tham gia phiên họp.
XÉT THẤY:
Do nghiện ma túy từ tháng 8 năm 2016 và sử dụng ma túy với hình thức hút, nên ngày 23/6/2017, Nguyễn Ngọc Đ đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện, sau khi nhận được tin báo Công an xã E, huyện B đã mời Nguyễn Ngọc Đ đến trụ sở Công an xã E, huyện B để tiến hành lập biên bản, tại bản tự khai Nguyễn Ngọc Đ đã thừa nhận về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Công an xã E giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, huyện B tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc Đ. Đồng thời, thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cho người bị đề nghị. Chuyển hồ sơ đề nghị cho phòng Tư pháp huyện B kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, phòng Tư pháp đã có văn bản xác nhận pháp lý của hồ sơ đề nghị. Do đó, phòng Lao động thương binh và xã hội có văn bản đề nghị Toà án nhân dân huyện B áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Như vậy, việc lập hồ sơ đề nghị đối với Nguyễn Ngọc Đ đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 17 Nghị định số 81/2013/NĐ - CP, ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính và các Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13 Nghị định số 221/2013/NĐ - CP, ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ.
Căn cứ vào các tài liệu đã được thu thập và lời trình bày của người bị đề nghị có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định: Nguyễn Ngọc Đ có nơi cư trú ổn định tại Thôn S, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy, theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ đã xác định Nguyễn Ngọc Đ có nơi cư trú ổn định. Do đó, Nguyễn Ngọc Đ thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét tính chất mức độ hành vi của Nguyễn Ngọc Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy. Xét nhân thân, bị chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã E huyện B ra Quyết định số 158/QĐ-UBND, ngày 18/10/2016 về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 18/10/2016 đến ngày 18/01/2017, sau khi chấp hành xong quyết định giáo dục tại địa phương cho đến ngày 23/6/2017 thì lại tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên sau khi thực hiện hành vi đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Tại phiên họp, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là Nguyễn Ngọc Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo quy định khoản 2 Điều 19 của Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội .
Xét đề nghị của đại diện phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ngọc Đ là có căn cứ và phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý hành chính; Điều 20, Điều 22 của Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
- Nguyễn Ngọc Đ – Sinh ngày 02/03/1988; tại huyện A , tỉnh Bình Định.
Thường trú tại: Thôn S, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Con ông Nguyễn Ngọc A và con bà Lương Thi Mỹ X
2. Thời gian chấp hành đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện Trung tâm Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh Đắk Lắk.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định. Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện B có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện B có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết đinh này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an huyện B có trách nhiệm thi hành quyết định này ngay sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ; - Viện kiểm sát huyện; - Công an huyện ; - Phòng Lao động -TBXH - UBND xã , - Nguyễn Ngọc Đ; - Lưu HS, VT. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Huỳnh Định Tình |