vanban.org

Quyết định 02/QĐST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Thị T, Tuyên bố ông Điểu C, sinh năm 1959, nơi cư trú cuối cùng: Ấp Hưng Phú, xã An Lộc, huyện Bình Long (nay là Tổ 7, khu phố Hưng Phú, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long), tỉnh Bình Phước là đã chết.

Về chi phí tố tụng: Bà Thị T phải chịu 3.000.000đ (ba triệu đồng) chi phí tố tụng về việc đăng Thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích trên các phương tiện thông tin đại chúng. Lệ phí Tòa án: Miễn T1 lệ phí cho bà Thị T vì bà T là người cao tuổi và có đơn xin miễn lệ phí. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Thị T, Tuyên bố ông Điểu C, sinh năm 1959, nơi cư trú cuối cùng: Ấp Hưng Phú, xã An Lộc, huyện Bình Long (nay là Tổ 7, khu phố Hưng Phú, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long), tỉnh Bình Phước là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định số: 02/QĐST
Ngày 28/3/2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Bình – Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Quý - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Hùng Phong – Kiểm sát viên

Ngày 28/3/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 77/2023/TLST – VDS ngày 10 tháng 10 năm 2022, về việc: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm số 05/2023/QĐ-DSST, ngày 15/3/2023.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Thị T, sinh năm 1959

Địa chỉ: Tổ 7, khu phố HP, phường HC, thị xã BL, tỉnh Bình Phước

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Thị T1, sinh năm 1997 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 7, khu phố HP, phường HC, thị xã BL, tỉnh Bình Phước

2. Anh Điểu Đ, sinh năm 1995 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 2, ấp SL, xã TQ, huyện HQ, tỉnh Bình Phước.

- Người làm chứng:

1. Ông Điều G, sinh năm 1951 (xin vắng mặt)

2. bà Thị N, sinh năm 1975 (xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Tổ 4, khu phố BN 1, phường HC, thị xã BL, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và lời trình bày của bà Thị T tại Tòa án:

Bà Thị T với ông Điểu C chung sống như vợ chồng từ năm 1994 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống thì giữa bà Thị T và ông Điểu C có với nhau hai người con chung là Điểu Đ, sinh năm 1995 và Thị T1, sinh năm 1997.

Trước khi chung sống với ông C thì bà T không biết ông C có quê quán, gốc gác ở đâu. Bà T với ông C gặp nhau khi đi làm rẫy rồi về ở chung với nhau. Khi đó ông C hay làm rẫy, làm củi tại khu vực xã Minh Đức, huyện Bình Long (nay là xã Minh Đức, huyện Hớn Quản), tỉnh Bình Phước, ông C không có nhà cửa cũng không có địa chỉ cư trú rõ ràng. Khi chung sống với nhau thì từ năm 1994 tới năm 1997 bà T với ông C sinh sống tại địa chỉ Ấp Hưng Phú, xã An Lộc, huyện Bình Long (nay là khu phố Hưng Phú, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long). Ông C nói với bà T là cha mẹ ông C đã chết hết, anh chị em cũng không có ai. Ông C ở với bà T nhưng không đăng ký hộ khẩu thường trú.

Năm 1997 trước thời điểm bà T sinh ra cháu Thị T1 khoảng một tháng thì ông C bỏ đi, khi đi ông C không nói với ai là mình đi đâu. Từ đó tới nay ông C không về, không liên lạc với ai, cũng không ai biết ông C hiện nay đang ở đâu. Tính đến nay ông Điểu C đã bỏ đi biệt tích 25 năm bà T đã đi tìm nhiều nơi nhưng không gặp ông C.

Bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Điểu C là đã chết, mục đích là để làm các thủ tục pháp lý về quyền sử dụng đất.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc trình bày nội dung giống như bà Thị T đã trình bày, họ đồng ý với yêu cầu của bà T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Điểu C là đã chết và không ai có yêu cầu gì khác.

Những người làm chứng trình bày: Khoảng những năm 1990 (không nhớ rõ cụ thể là năm nào) họ có thấy bà Thị T chung sống với ông Điểu C tại nhà bà T ở khu phố Hưng Phú, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long (lúc hai người ở chung với nhau thì địa chỉ này còn là ấp Hưng Phú, xã An Lộc, huyện Bình Long). Bà T với ông Điểu C ở với nhau có hai người con thì ông C bỏ đi tới nay không về, từ đó tới nay họ cũng không có tin tức gì của ông C.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về vụ việc: Tòa án nhân dân thị xã Bình Long thụ lý vụ việc dân sự Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo yêu cầu của bà Thị T là đúng thẩm quyền. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc và lời trình bày của đương sự thì xác định ông Điểu C đã biệt tích từ năm 1997 tới nay, đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm nhưng không có kết quả nên yêu cầu của bà Thị T là có căn cứ. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự, Điều 391, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà T về việc tuyên bố ông Điểu C là đã chết.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự và lời trình bày của đương sự tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước nhận định:

Bà Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Điểu C là đã chết. Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu của bà Thị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

Về nội dung yêu cầu: Ông Điểu C chung sống như vợ chồng với bà Thị T trong thời gian từ năm 1994 đến năm 1997 tại nhà bà T tại địa chỉ: Ấp Hưng Phú, xã An Lộc, huyện Bình Long (nay là khu phố Hưng Phú, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long), tỉnh Bình Phước. Ông C chung sống với bà T có hai con chung là Điểu Đ và Thị T1. Năm 1997 khi bà T chuẩn bị sinh cháu T1 thì ông C bỏ đi đâu không ai biết, từ đó đến nay ông C không quay về, ông C không liên lạc gì với bà T cũng như các thành viên khác trong gia đình, mặc dù bà T đã tìm kiếm bằng mọi hình thức nhưng không có kết quả, không có ai biết tin tức gì về ông C. Sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu của bà T, Tòa án cũng đã ra Thông báo và công bố Thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố là đã chết đối với ông Điểu C trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật, nhưng quá thời hạn bốn tháng cũng không có tin tức gì của ông C. Kể từ ngày ông C bỏ nhà đi tới nay đã được hơn năm năm, căn cứ vào Điều 71 của Bộ luật dân sự thì yêu cầu của bà Thị T về việc tuyên bố ông Điểu C là đã chết có đủ cơ sở để chấp nhận.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

Về chi phí tố tụng: Bà Thị T đã bỏ ra số T1 3.000.000đ (ba triệu đồng) để đăng thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích trên Đài tiếng nói Việt Nam và Báo công lý. Theo quy định tại Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bà T phải chịu chi phí này.

Về lệ phí Tòa án: Bà Thi T là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp T1 lệ phí Tòa án nên được miễn nộp lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 361, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 71 Bộ luật dân sự.

Chấp nhận yêu cầu của bà Thị T, Tuyên bố ông Điểu C, sinh năm 1959, nơi cư trú cuối cùng: Ấp Hưng Phú, xã An Lộc, huyện Bình Long (nay là Tổ 7, khu phố Hưng Phú, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long), tỉnh Bình Phước là đã chết. Thời điểm chết tính từ ngày 28/3/2023.

Về chi phí tố tụng: Bà Thị T phải chịu 3.000.000đ (ba triệu đồng) chi phí tố tụng về việc đăng Thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Lệ phí Tòa án: Miễn T1 lệ phí cho bà Thị T vì bà T là người cao tuổi và có đơn xin miễn lệ phí.

Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ