- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của bà Thiều Thị Hoa X về việc yêu cầu tuyên bố ông Chu Văn H mất năng lực hành vi dân sự
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/QĐST- VDS | T, ngày 21 tháng 7 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Minh Hòa
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Thu Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2023/TLST- VDS ngày 14 tháng 4 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/QĐST- VDS, ngày 05 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên họp số 01, ngày 13 tháng 7 năm 2023 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Thiều Thị Hoa X- sinh năm 1971
Địa chỉ: Khu 2, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Chu Văn H- sinh năm 1966
Địa chỉ: Khu 2, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời khai tiếp theo, người yêu cầu là bà Thiều Thị Hoa X trình bày: Tôi là vợ của anh Chu Văn H - sinh năm 1966, ở cùng địa chỉ: Khu 2, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Chúng tôi kết hôn với nhau năm 1990. Khi đó, tôi biết anh H bẩm sinh bị điếc và nói ngọng, nhưng vẫn tự nguyện kết hôn. Trong quá trình chung sống, tôi phát hiện chồng tôi tính khí thất thường, không làm chủ được bản thân, vô cớ cũng đánh chửi vợ con, đập phá tài sản. Năm 2020 khi tôi đang XKLĐ tại Đài Loan, thì chồng tôi ở nhà phát bệnh thần kinh, do dịch Covid 19 đang căng thẳng tôi không về được, con gái tôi phải đưa chồng tôi đi Bệnh viện tâm thần Phú Thọ khám và điều trị, Bệnh viện đã cấp sổ tâm thần cho chồng tôi, cấp phát thuốc điều trị, cho đến nay vẫn phải dùng thuốc, cứ 6 tháng đổi sổ một lần. Năm 2021 chồng tôi được UBND xã C cấp giấy xác nhận khuyết tật, dạng khuyết tật: Tâm thần; mức độ nặng và được hưởng trợ cấp hàng tháng. Đến năm 2022 bệnh thần kinh của chồng tôi ngày càng nặng, không chỉ đập phá đồ đạc trong nhà mà còn vác dao đuổi đánh, chém vợ con, nhiều lần tôi bị chồng đánh, phải đi viện. Do chồng tôi bị bệnh tâm thần, không thể nhận thức, làm chủ hành vi, tôi yêu cầu Tòa án xem xét, tuyên bố chồng tôi mất năng lực hành vi dân sự, để tôi giải quyết việc gia đình.
Tại phiên họp, bà Thiều Thị Hoa X giữ nguyên yêu cầu tuyên bố ông Chu Văn H mất năng lực hành vi dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng: Đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu của bà Thiều Thị Hoa X về việc yêu cầu tuyên bố ông Chu Văn H mất năng lực hành vi dân sự.
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà X phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bà Thiều Thị Hoa X là vợ của ông Chu Văn H. Theo quy định tại khoản 1 Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự, bà X là người có quyền yêu cầu tuyên bố ông H mất năng lực hành vi dân sự. Tòa án nhân dân huyện T thụ lý giải quyết việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
Theo lời trình bày của bà Thiều Thị Hoa X, thì ông Chu Văn H là chồng của bà X bị bệnh tâm thần, không thể nhận thức, làm chủ hành vi, bà X yêu cầu Tòa án xem xét, tuyên bố ông Hưng mất năng lực hành vi dân sự, để bà giải quyết việc gia đình.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án đã thu thập tài liệu chứng cứ và ra Quyết định trưng cầu giám định tâm thần để xác định năng lực hành vi dân sự của ông Chu Văn H. Tại bản “Kết luận giám định sức khỏe tâm thần” số 95/2023/SKTTNT ngày 30/6/2023 của Trung tâm Pháp y tâm thần Khu vực Miền núi phía Bắc - Bộ Y tế kết luận: “Chu Văn H sinh năm 1966, trú tại Khu 2, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ bị bệnh Rối loạn cảm xúc, khí sắc/Chậm phát triển tâm thần nhẹ.
Hiện tại Chu Văn H có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.”
Từ kết luận trên, xét thấy ông H chỉ có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, chứ không mất năng lực hành vi dân sự. Bà Thiều Thị Hoa X yêu cầu tuyên bố ông Chu Văn H mất năng lực hành vi dân sự là không có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự, nên không được chấp nhận.
. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Thiều Thị Hoa X phải nộp theo quy định của pháp luật.
. Nhận định trên cũng phù hợp với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên họp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, các điều: 370, 371, 372, khoản 1 Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Thiều Thị Hoa X về việc yêu cầu tuyên bố ông Chu Văn H mất năng lực hành vi dân sự
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Thiều Thị Hoa X phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai số AA/2020/0003719, ngày 14/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Bà X đã nộp đủ lệ phí.
3. Đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện T; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - UBND xã C; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Vũ Thị Minh Hòa |