vanban.org

Quyết định 02/QĐDS-ST — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của Phòng V huyện K về việc “Hủy việc kết hôn trái pháp luật”.

Tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị H’W Êban và anh Y N Êcăm (đăng ký ngày 21/9/2015 tại UBND xã Ea, huyện K). Giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hủy kết hôn trái pháp luật giữa H' W và Y N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của Phòng V huyện K về việc “Hủy việc kết hôn trái pháp luật”.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2017/QĐDS- ST
Ngày 22 tháng 12 năm 2017
V/v hủy kết hôn trái pháp luật

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Đình Tuyên - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Ông Lê Hữu Soái – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhất - Kiểm sát viên.

Ngày 22/12/2017, tại Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, mở phiên họp sơ thẩm, công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 193/2017/TLST-VHNGĐ ngày 08/11/2017 về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, theo quyết định mở phiên họp số 02/QĐPH-VDS ngày 07/12/2017.

1/ Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Phòng V huyện K

Địa chỉ: Đường N, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Thành H – Trưởng phòng V huyện K.

2/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị H’W Êban, sinh năm 1980

Cư trú tại: Buôn E, xã Ea, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

- Anh Y L Niê, sinh năm 1981

Cư trú tại: Buôn E, xã Ea, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

- Anh Y N Êcăm, sinh năm 1990

Cư trú tại: Buôn K, xã H, thành phố B;

- Ủy ban nhân dân xã Ea, huyện K

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Y P Êban – Phó chủ tịch UBND xã Ea (Theo giấy ủy quyền ngày 15/12/2017của Chủ tịch UBND xã Ea).

Địa chỉ: Thôn T, xã Ea, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

3/ Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Chị H’W Êban và anh Y L Niê, thường trú tại buôn E, xã Ea, huyện K đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea vào ngày 18/4/2005 sau đó chung sống được 03 năm, hai bên viết giấy tự ly hôn, nhưng chưa giải quyết ly hôn tại Tòa án. Ngày 21/9/2015 chị H’W Êban và anh Y N Êcăm (thường trú tại buôn K, xã H, thành phố B) đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea là trái quy định của pháp luật.

Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Phòng V huyện K đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị H’W Êban và anh Y N Êcăm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị H’W Êban và anh Y N Êcăm đồng ý với đề nghị của Phòng V huyện K.

Về con chung của chị H’W Êban và anh Y N Êcăm là cháu: Y C Êban, sinh ngày 19/7/2016, chị H’W Êban và anh Y N Êcăm thống nhất giao cho chị H’W Êban trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Y N Êcăm cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện UBND xã Ea trình bày: UBND xã đồng ý với yêu cầu của phòng V huyện K, việc đăng ký kết hôn giữa chị H’W Êban và anh Y N Êcăm là trái quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật.

Đại diện VKSND huyện Krông Ana phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: TAND huyện Krông Ana thụ lý giải quyết yêu cầu hủy việc đăng ký kết hôn trái pháp luật là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 29, điểm b, khoản 2 Điều 35 và Điều 36 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Thẩm phán và thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án căn cứ vào điểm c, khoản 2 Điều 5, điểm b khoản 2 Điều 10, Điều 11 và Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của Phòng V huyện K, tuyên hủy việc đăng ký kết hôn trái pháp luật giữa chị H’W Êban và anh Y N Êcăm.

Về con chung: Giao con chung cháu Y C Êban, sinh ngày 19/7/2016 cho chị H’W Êban trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk nhận định:

Phòng V huyện K là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện K, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND huyện quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch và quảng cáo. Tại Công văn số 672/UBND- TP ngày 24/8/2017 của UBND huyện K giao cho Phòng V huyện K yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Ana hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị H’W Êban và anh Y N Êcăm.

Xét thấy: Chị H’W Êban và anh Y L Niê có đăng ký kết hôn vào ngày 18/4/2005 tại UBND xã Ea, huyện K là quan hệ hôn nhân hợp pháp, sau thời gian chung sống khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, hai người không chung sống với nhau nữa, nhưng chưa được Tòa án giải quyết cho ly hôn. Ngày 21/9/2015 chị H’W Êban đăng ký kết hôn với anh Y N Êcăm tại UBND xã Ea là vi phạm quy định về những trường hợp cấm kết hôn. Đối với chị H’W Êban vi phạm quy định người đang có chồng mà kết hôn với người khác, đối với anh Y N Êcăm vi phạm quy định người chưa có vợ mà kết hôn với người đang có chồng. Tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”. Việc phòng V huyện K đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị H’W Êban và anh Y N Êcăm là có căn cứ, cần chấp nhận.

Giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.

- Chị H’W Êban và anh Y N Êcăm phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

Về con chung: Chị H’W Êban và anh Y N Êcăm có một con chung là Y C Êban, sinh ngày 19/7/2016. Các đương sự thống nhất giao cho chị H’W Êban trực tiếp nuôi dưỡng là bảo đảm quyền lợi cho con chưa thành niên, cần chấp nhận. Chị H’W Êban không yêu cầu anh Y N Êcăm cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết. Anh Y N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Phòng V huyện K không phải chịu lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 29; điểm b, khoản 2 Điều 35 và Điều 36; Điều 367; 369; 370; 372 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm c, khoản 2 Điều 5; điểm b, khoản 2 Điều 10; Điều 11 và Điều 12, Điều 81, 82, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 4, Điều 5 Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT- BVHTTDL- BNV ngày 14/9/2015 của Bộ văn hóa thể thao và du lịch và Bộ nội vụ.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của Phòng V huyện K về việc “Hủy việc kết hôn trái pháp luật”.

Tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị H’W Êban và anh Y N Êcăm (đăng ký ngày 21/9/2015 tại UBND xã Ea, huyện K).

Giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.

- Chị H’W Êban và anh Y N Êcăm phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

- Về con chung: Giao cho chị H’W Êban trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Y C Êban, sinh ngày 19/7/2016.

Anh Y N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu Phòng V huyện K không phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày,VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, kể từ kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ