vanban.org

Quyết định 02/QĐ-TA

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 14/03/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với V Minh H (tên gọi khác: Không);

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc; Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đ i cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông bá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Võ Minh Hòa"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với V Minh H (tên gọi khác: Không);
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 15 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/QĐ-TAĐà Lạt, ngày 14 tháng 3 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Phạm Văn Hùng

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Minh H

Ngày 14 tháng 3 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2022/QĐ–TA ngày 18 tháng 02 năm 2022, Thông báo về việc hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính ngày 08/3/2022, đối với:

Họ và tên: V Minh H (tên gọi khác: Bun) – sinh ngày: 13/F/1993.

Nơi cư trú: T 13, phường F, thành phố Đ L, tỉnh Lâm Đồng;

CMND/CCCD số: 0F8093008415, Ngày cấp: 12/8/2021, Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo;

Trình độ học vấn: 9/12;

Nghề nghiệp: Sửa xe;

Tiền án: Không

Tiền sự: Đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số: 1F/QĐ-UBND ngày 11/01/2021 của Chủ tịch UBND phường F và đã chấp hành xong việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn ngày 07/01/2021.

Con ông: V Minh S và bà Đinh Thị Thanh Th.

V Minh H (có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn Mặc Vũ, Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng: Bà Cao Thị Bích Hợp – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

V Minh H là người nghiện sử dụng Ma túy đá từ năm 201F, lần gần nhất sử dụng Ma túy là ngày 20/01/2022, H có nhờ bạn mua dùm gói Ma túy đá giá 400.000đồng để sử dụng, Vào ngày 10/02/2022 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đá và MT t ng hợp, bị Công an phường F, thành phố Đà Lạt lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Phiếu kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 10/02/2022, của Phòng khám Đa khoa, Trung tâm y tế thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xác định V Minh H có nghiện ma tuý, loại ma túy sử dụng là M T (Ma túy đá) và AMP (Ma túy t ng hợp) xét nghiệm dương tính.

V Minh H có nơi cư trú n định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số: 1F/QĐ-UBND ngày 11/01/2021 của Chủ tịch UBND phường F và đã chấp hành xong việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn ngày 07/01/2021.

Ngày 18/02/2022, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng lập hồ sơ đề nghị đưa H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội tham gia phiên họp:

V Minh H là người nghiện sử dụng Ma túy đá và MT t ng hợp, bị Công an phường F, thành phố Đà Lạt lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, lần gần nhất sử dụng là ngày 10/02/2022. Do H nghiện chất ma túy, nên đề nghị xem xét đưa đi cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng với thời gian từ 12 đến 24 tháng.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: Về trình tự lập hồ sơ của cơ quan lập hồ sơ đều đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định, Thẩm phán chủ trì phiên họp và những người tham gia phiên họp đều đúng thành phần, đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn.

Về nội dung, trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên họp hôm nay.

Xét thấy: Hành vi của V Minh H vi phạm khoản 3 Điều 3 Luật phòng chống Ma túy; Thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 9F của Luật ử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Luật sửa đ i, b sung khoản 1 Điều 9F của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020.

Đề nghị chấp nhận ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đà Lạt, đưa H đi tập trung cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 12 đến 24 tháng.

Ý kiến của anh V inh H: Hiện tại tôi không còn nghiện nữa nên xin tự cai nghiện ở nhà, ngoài ra không có ý kiến gì thêm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và ý kiến của Kiểm sát viên.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp trong hồ sơ đề nghị: Xét thấy các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với V Minh H đảm bảo đầy đủ hợp pháp theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Luật sửa đ i, b sung Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020, Điều 41 Nghị định số 11F/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của chính phủ qui định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật ử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy...

Về nhân thân: V Minh H Làm nghề Sửa xe, bản thân nghiện ma túy đá và AMP (Ma túy t ng hợp), H nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, có hại cho sức khỏe nhưng do bản thân không tự cai nghiện được nên vẫn sử dụng chất ma túy.

Về hành vi của V Minh H thấy rằng: Là người đã sử dụng trái phép M T (Ma túy đá) và AMP (Ma túy t ng hợp) từ năm 201F không tự cai nghiện được. Ngày 10/02/2022, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường F, thành phố Đà Lạt lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Theo Phiếu kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 10/02/2022 của của Phòng khám Đa khoa, Trung tâm y tế thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xác định V Minh H có nghiện ma tuý, loại ma túy sử dụng là M T (Ma túy đá) và AMP (Ma túy t ng hợp).

Căn cứ Điều 9F của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Luật sửa đ i, b sung khoản 1 Điều 9F của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020, Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 thì V Minh H thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về tình tiết tăng nặng: V Minh H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng;

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên họp V Minh H tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi đã thực hiện nên được áp dụng khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm thấy rằng: Việc V Minh H sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nhưng không tự cai nghiện được là nghiêm trọng nhưng chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự, việc đưa đi tập trung cai nghiện là cần thiết, đảm bảo cho V Minh H có thời gian cai nghiện ma túy trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ và xem xét tại phiên họp. Trên cơ sở xem xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng. Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đà Lạt; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với V Minh H.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào các Điều F, 9, 95, 9F và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ vào các Điều 3, 15, 20 và 31 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với V Minh H (tên gọi khác: Không);

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đ i cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, t chức có liên quan biết.

3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định, người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đà Lạt có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt có quyền kháng nghị quyết định này; trường hợp người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc người đại diện hợp pháp, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị;

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đà Lạt phối hợp với Công an thành phố Đà Lạt đưa anh V Minh H vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: Số 357 thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

Cỡ chữ