vanban.org

Quyết định 02/QĐ-TA

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 08/01/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với: Mai Quốc K (TPS), sinh ngày: 02/11/1982; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 44C, Khu phố B, Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Con ông Mai Văn N, sinh năm: 1953 và bà Nguyễn Thị Kim Y (đã chết). Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 13 (Mười ba) tháng, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Mai Quốc K"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/QĐ-TAThành phố Bến Tre, ngày 08 tháng 01 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Ông Lê Hoàng Út

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Vương

Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre,

tỉnh Bến Tre, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 23/QĐ-TA ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với:

Họ và tên: MAI QUỐC K (TPS); Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 02/11/1982 tại tỉnh Bến Tre;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: không;

Trình độ văn hoá: 9/12;

Nguyên quán: Phường B, thành phố BT, tỉnh Bến Tre;

Hộ khẩu thường trú: Số 44C, Khu phố B, Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến

Tre;

Nơi cư trú: Số 44C, Khu phố B, Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre;

Nghề nghiệp: Không;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Tại Quyết định số 02/QĐ-XPHC ngày 20/02/2023 của Công an

Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;

Con ông Mai Văn N, sinh năm: 1953 và bà Nguyễn Thị Kim Y (đã chết);

Vợ: Nguyễn Thị Thu V, sinh năm: 1985 (đã ly hôn)

Có 01 người con sinh năm 2011;

Anh Mai Quốc K có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Lê Quang Uy – Chuyên viên Phòng Lao

động - Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre: Bà Trần Thị Ấm -

Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc, hành vi vi phạm của anh Mai Quốc

K được tóm tắt như sau: Theo Quyết định số 45/QĐ-UBND ngày 24/02/2023 của Ủy ban nhân dân Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại cộng đồng đối với anh Mai Quốc K với thời hạn từ ngày 27/02/2023 đến ngày 27/8/2023. Đến ngày 26/8/2023, anh K đã chấp hành xong quyết định nêu trên và được Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận số 63/CN-CNTN ngày 25/8/2023. Ngày 28/8/2023, Ủy ban nhân dân Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 164/QĐ-UBND quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với anh Mai Quốc K, thời gian quản lý từ ngày 28/8/2023 đến ngày 28/8/2024. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 12/12/2023, Công an Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre mời anh K về trụ sở để xét nghiệm chất ma túy. Kết quả anh Mai Quốc K dương tính với chất ma túy, loại Heroin.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre có ý

kiến: Do anh Mai Quốc K tái nghiện trong thời gian quản lý sau cai nghiện nên Công an phường Phường T và Ủy ban nhân dân Phường T đã lập hồ sơ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Bến Tre đối với anh Mai Quốc K với thời hạn là 13 tháng.

Anh Mai Quốc K thừa nhận bản thân đã sử dụng chất ma túy và vào ngày

12/12/2023, bị lực lượng Công an mời làm việc và xét nghiệm kết quả dương tính với chất ma túy. Anh thống nhất với đề nghị của Phòng lao động – Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp xác định: Quá trình thụ lý hồ sơ và tại

phiên họp, những người tiến hành phiên họp đã tuân thủ và thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo luật định. Về nội dung: hồ sơ đã được lập đúng theo trình tự, thủ tục theo luật định, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Mai Quốc K theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre với thời hạn 13 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào

kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ và ý kiến của những người tham gia phiên họp,

XÉT THẤY:

Ngày 26/8/2023, anh Mai Quốc K đã chấp hành xong Quyết định số 45/QĐ-

UBND ngày 24/02/2023 của Ủy ban nhân dân Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre về việc quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại cộng đồng. Ngày 28/8/2023, Ủy ban nhân dân Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 164/QĐ-UBND quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với anh Mai Quốc K, thời gian quản lý từ ngày 28/8/2023 đến ngày 28/8/2024. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện thì vào ngày 12/12/2023, anh Mai Quốc K bị Công an Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre lập biên bản vi phạm hành chính do sử dụng trái phép chất ma túy. Qua làm việc, anh K khai nhận đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở số 44C, Khu phố B, Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre vào ngày 11/12/2023, loại ma túy sử dụng là heroin. Căn cứ phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 15/12/2023 của Trung tâm y tế thành phố Bến Tre thể hiện anh Mai Quốc K nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroin.

Anh Mai Quốc K là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, trong thời gian quản lý

sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 và khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Do đó, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Mai Quốc K đã được các cơ quan có thẩm quyền lập đúng và đầy đủ theo trình tự pháp luật quy định và đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre là có cơ sở.

Anh Mai Quốc K biết rõ chất ma túy là chất độc hại, việc sử dụng là vi phạm

pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của anh K đã xâm phạm đến chủ trương chính sách của Nhà nước về bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó, việc bắt buộc cai nghiện đối với anh Mai Quốc K là cần thiết.

Xét thấy, anh Mai Quốc K đã bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính

về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại cộng đồng nhưng vẫn không từ bỏ mà tiếp tục sử dụng và tái nghiện chất ma túy nên cần phải có thời gian cai nghiện nhất định mới giúp anh K từ bỏ việc sử dụng ma túy. Do đó, mức thời gian cai nghiện 13 tháng mà Phòng Lao động

- Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với: Mai Quốc K (TPS), sinh ngày: 02/11/1982; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 44C, Khu phố B, Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Con ông Mai Văn N, sinh năm: 1953 và bà Nguyễn Thị Kim Y (đã chết).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 13 (Mười ba) tháng,

kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Anh Mai Quốc K được quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh

và xã hội thành phố Bến Tre được quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre, Công an

thành phố Bến Tre và Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ