vanban.org

Quyết định 02/QĐ-CSCNBB-TA

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/01/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Lê Đức T.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở cai nghiện ma túy số 3. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày 24/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Đức Thuận"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Lê Đức T.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 57/2022/NĐ-CP Quy định các danh mục chất ma túy…; Điều 12 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính và những nội dung nhân định
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/QĐ-CSCNBB-TAQuận 10, ngày 10 tháng 01 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Triệu Luật.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hiếu.

Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại Cơ sở xã hội Nhị Xuân, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 03/QĐ-TA ngày 04/01/2023 đối với:

Họ và tên: Lê Đức T - Giới tính: Nam.

Sinh năm: 1983.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 9/12.

Nguyên quán: Thành phố Hồ Chí Minh.

Hộ khẩu thường trú: đường Tô Hiến T, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.

Tiền sự: 03 (Ngày 20/10/2016 bị Công an Quận 10 lập hồ sơ và Tòa án

nhân dân Quận 10 quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng tại Quyết định số 156/QĐ-TA, ngày 04/10/2018 bị Công an Quận 10 lập hồ sơ và Tòa án nhân dân Quận 10 quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng tại Quyết định số 132/QĐ-TA, ngày 18/7/2020 bị Công an Quận 10 lập hồ sơ và Tòa án nhân dân Quận 10 quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 23 tháng tại Quyết định số 110/QĐ-TA.

Nhân thân: Không tốt.

Con ông: Lê Văn T.

và bà: Nguyễn Thị H.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị (Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh):

Ông Đặng Bá Thắng.

Chức vụ: Chuyên viên.

(Theo giấy ủy quyền số: 91.1/LĐTBXH ngày 29/12/2022 của Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh:

Ông Phan Trần Vĩnh Phúc – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Lúc 10 giờ 15 phút ngày ngày 24/11/2022, tại địa bàn Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an Phường 12 Quận 10 tiến hành kiểm tra, phát hiện và xác định Ông Lê Đức T có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, nên tạm giữ, làm rõ, qua xét nghiệm nhanh nước tiểu của ông Lê Đức T thì dương tính với chất ma túy; ngày 24/11/2022, Công an Phường 12, Quận 10 lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng chất ma túy đối với ông Lê Đức T.

Theo ông Lê Đức T trình bày: Bản thân thừa nhận có sử dụng ma túy và thừa nhận kết quả xét nghiệm chất ma túy là của mình, sau đó bị lực lượng Công an kiểm tra, tạm giữ như đã nêu trên; về tình trạng cư trú: ông khai hiện có hộ khẩu thường trú tại đường Tô Hiến T, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng hiện không còn cư trú ổn định tại địa chỉ trên.

Công an Phường 12, Quận 10 đã cung cấp thông tin về tình trạng cư trú của ông Lê Đức T tại địa chỉ đường Tô Hiến T, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, như sau: Ông Lê Đức T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại đường Tô Hiến T, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng thực tế không còn cư trú tại địa phương.

Ngày 24/11/2022, Công an Phường 12, Quận 10 ra quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính và đưa người nghiện ma túy vào trung tâm tiếp nhận đối tượng xã hội Nhị Xuân để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T.

Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy ngày

27/11/2022 của Bác sỹ Lê Thị Xuyến (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở xã hội Nhị Xuân), xác định: Ông Lê Đức T nghiện: chất Heroin.

Ngày 27/11/2022, Công an Phường 12, Quận 10 tiến hành lập biên bản về việc thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện và yêu cầu Ông Lê Đức T thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Tuy nhiên, ông Lê Đức T trình bày ý kiến là không thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy; nên ngày 27/11/2022 ông Lê Đức T bị Ủy ban nhân dân Phường 12, Quận 10 lập Biên bản vi phạm hành chính về việc không đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.

Ngày 27/11/2022, Công an Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh ra Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T.

Ngày 30/12/2022, Công an Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh có công văn đề nghị xem xét hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T.

Tại văn bản đề nghị số 91/ĐN-CNBB ngày 29/12/2022, Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T.

Tại phiên họp hôm nay, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10 đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Cơ sở cai nghiện ma túy số 3) đối với ông Lê Đức T với thời hạn 21 tháng đến 24 tháng; người bị đề nghị ông Lê Đức T đã thừa nhận hành vi phạm pháp trên và đồng ý với nội dung đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị. Ngoài ra, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền: qua xem xét hồ sơ, do cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp

cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ông Lê Đức T là Phòng Lao động thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh; do vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân.

Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ biên bản vi phạm hành chính ngày

27/11/2022 do Công an Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh lập thì xác định ông Lê Đức T là người nghiện ma túy nhưng không thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy; ngày 29/12/2022, Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T. Như vậy căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu xử lý vi phạm hành chính này vẫn còn trong thời hạn 03 tháng.

Về quốc tịch và độ tuổi: qua các tài liệu thu thập được, có cơ sở xác định

ông Lê Đức T là công dân Việt Nam, sinh năm 1983, tức trên 18 tuổi.

Về tình trạng cư trú của Ông Lê Đức T: Công an Phường 12, Quận 10 đã cung cấp thông tin về tình trạng cư trú của Ông Lê Đức T tại địa chỉ: đường Tô Hiến T, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, như sau: Ông Lê Đức T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại đường Tô Hiến T, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng thực tế không còn cư trú tại địa phương; tại phiên họp, ông Lê Đức T cho rằng bản thân không có nơi cư trú ổn định. Do vậy căn cứ vào chứng cứ thu thập được có cơ sở xác định Ông Lê Đức T thuộc trường hợp không có nơi cư trú ổn định.

Về tình trạng nghiện ma túy: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính ngày 24/11/2022 do Công an Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh lập về việc có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phù hợp với biên bản lấy lời khai vụ việc vi phạm hành chính (tất cả đều có xác nhận của ông Lê Đức T), bản tường trình của ông Lê Đức T (do ông Lê Đức T trình bày), biên bản xét nghiệm nước tiểu của ông Lê Đức T dương tính với chất ma túy (có xác nhận của ông Lê Đức T) có cơ sở xác định ông Lê Đức T có sử dụng chất ma túy đồng thời tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 27/11/2022 của Bác sỹ Lê Thị Xuyến (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở xã hội Nhị Xuân), xác định: Ông Lê Đức T nghiện: chất Heroin, xét thấy theo danh sách Bác sỹ của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh thì Bác sỹ Lê Thị Xuyến có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện theo quy định tại Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy và Điều 8 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; do vậy căn cứ vào khoản 16 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính và những nội dung nhân định trên, có cơ sở xác định Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 27/11/2022 của Bác sỹ Lê Thị Xuyến (đang công tác tại Phòng Y tế - Cơ sở xã hội Nhị Xuân), xác định: Ông Lê Đức T nghiện: chất Heroin là có cơ sở, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ thì đó là chất ma túy.

Ngoài ra, ông Lê Đức T không thuộc trường hợp không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Do vậy, ông Lê Đức T là người nghiện ma túy, trên 18 tuổi và không thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; do vậy cần thiết quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Lê Đức T theo quy định tại khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; nhằm mục đích để ông Lê Đức T chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về nhân thân: Không tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Tái phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thật sự thành thật hối lỗi; đó là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính, mà trong lời đề nghị của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10 cũng có nêu.

Căn cứ vào Điều 3, Điều 9, Điều 12, Điều 22, Điều 23 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 9; Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1&49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thành lập đối với ông Lê Đức T.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở cai nghiện ma túy số 3.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày 24/11/2022.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan biết.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội Quận 10 có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án nhân dân Quận 10.

Thời hạn kiến nghị, kháng nghị, khiếu nại là 03 ngày làm việc kể từ ngày

công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở xã hội Nhị Xuân, Thành phố Hồ Chí Minh./.

Cỡ chữ