- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "hủy quyết định tuyên bố chết"
- Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Duy Tr
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2026/QĐST - VDS | Nghệ An, ngày 23 tháng 6 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NGHỆ AN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Thị PH.
Thư ký phiên họp: Ông Trần Quốc Bảo - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân dân khu vực 2 - Nghệ An tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 130/2026/TLST - VDS ngày 11 tháng 5 năm 2026 về việc “Hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 37/2026/QĐST-VDS ngày 17 tháng 6 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Ông Nguyễn Duy Tr, sinh năm 1974; nơi cư trú: xóm 9, xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộ, Nghệ An ( nay là xóm Quyết Th, xã Nghi L, tỉnh Nghệ An; có mặt
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 08 tháng 5 năm 2026 và lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu ông Nguyễn Duy Tr trình bày:
Ngày 16 tháng 6 năm 1998, ông và bà Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Nghi Ph, huyện Nghi L (cũ), tỉnh Nghệ An ( nay là UBND xã Thần L, tỉnh Nghệ An). Ông và bà H chung sống với nhau tại xóm 9, xã Nghi D, huyện Nghi L, tỉnh Nghệ An ( nay là xóm Quyết Th, xã Nghi L, tỉnh Nghệ An). Khoảng năm 2004 thì bà H đi vào miền Nam sinh sống, ông và bà H lúc này vẫn liên lạc với nhau bình thường. Đến năm 2005, ông đưa con vào chung sống cùng với bà H tại tỉnh Bình Dương cho đến năm 2007, cùng năm 2007 bà H đã gửi con vào ở nhà thờ, do lúc đó ông không có việc làm nên đã đến Đồng Nai làm phụ hồ. Đến cuối năm 2007, ông về Bình Dương thăm vợ con thì mới biết bà H không còn ở chỗ cũ, ông không có cách nào liên lạc được.
Từ năm 2008 cho đến năm 2015, ông đi làm ở các tỉnh miền Nam nhưng thỉnh thoảng vẫn về quê. Tuy nhiên, ông vẫn không biết được bà H ở đâu và cũng không có cách nào để liên lạc với bà H. Năm 2014, ông có đi đổi Giấy chứng minh nhân dân tại Công an tỉnh Nghệ An. Khoảng cuối năm 2015, đầu năm 2016, ông tiếp tục vào miền Nam đi làm cùng thời điểm này ông đã bị lừa sang làm việc ở Campuchia. Trong khoảng thời gian bị lừa sang Campuchia ông bị thu hết toàn bộ giấy tờ tùy thân, sống và làm việc trong khu tự trị có người theo dõi giám sát, không được liên lạc với bất kỳ ai bên ngoài. Đến cuối năm 2025 lợi dụng hỗn loạn tại khu tự trị nên ông đã trốn thoát về Việt Nam.
Khi ông trở về địa pH tiến hành làm các giấy tờ tùy thân thì được biết năm 2019 Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Nghệ An) đã ban hành Quyết định tuyên bố một người là đã chết đối với ông. Vì vậy, nay ông đã trở về nên yêu cầu Tòa án: Tuyên hủy Quyết định số 27/2019/QĐDS - ST của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An) về việc tuyên bố một người là đã chết đối với ông.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 35; điểm c khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 394 và Điều 395 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 73 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 35 Nghị quyết 326/2019/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Duy Tr về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố Hủy bỏ quyết định số 27/2019/QĐĐS - ST của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An) về việc tuyên bố một người là đã chết đối với ông Nguyễn Duy Tr. Ông Nguyễn Duy Tr phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An nhận định:
. Về tố tụng: Ông Nguyễn Duy Tr là người đã bị Tòa án tuyên bố là đã chết nay trở về địa phương và yêu cầu Toà án hủy bỏ Quyết định số 27/2019/QĐĐS - ST ngày 31 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An) về việc tuyên bố một người là đã chết đối với ông. Ông Nguyễn Duy Tr có nơi cư trú tại xóm Quyết Thắng, xã Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 27; khoản 2 Điều 35 và điểm c khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung: Xét lời trình bày của người yêu cầu; người thân thích của người yêu cầu; nhận xét của xóm trưởng xóm Quyết Thắng; Tổ trưởng tổ an ninh xóm Quyết Thắng và những người hàng xóm nơi ông Nguyễn Duy Tr cư trú; tất cả đều khẳng định ông Nguyễn Duy Tr hiện nay đã trở về và sinh sống tại xóm Quyết Thắng, xã Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Khi trở về sinh sống tại địa pH ông Tr đã lên trình báo với xóm trưởng, tổ trưởng tổ an ninh xóm Quyết Thắng, xã Nghi Lộc.
Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 394 và 395 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 73 Bộ luật Dân sự, cần chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Duy Tr Hủy bỏ quyết định số 27/2019/QĐDS - ST ngày 31 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An) về việc tuyên bố một người là đã chết.
[2]. Về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết: Ông Nguyễn Duy Tr được khôi phục các quyền theo quy định tại khoản 2; khoản 3 và khoản 4 Điều 73 Bộ luật dân sự.
. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Duy Tr phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát khu vực 2 - Nghệ An tại phiên họp là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 35; điểm c khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 394 và Điều 395 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 73 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 35 Nghị quyết 326/2019/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
[1]. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Duy Tr
Hủy bỏ quyết định số 27/2019/QĐDS - ST ngày 31 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Nghi L, tỉnh Nghệ An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An) về việc tuyên bố ông Nguyễn Duy Tr, sinh năm 1974; nơi đăng ký hộ khẩu: xóm 9, xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ( nay là xóm Q T xã Nghi L, tỉnh Nghệ An là đã chết.
[2] Về hậu quả pháp lý của việc Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết được thực hiện theo quy định tại khoản 2; khoản 3 và khoản 4 Điều 73 của bộ luật dân sự, cụ thể:
“2. Quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là đã chết, trừ trường hợp sau đây:
a) Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã được Tòa án cho ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 68 của Bộ luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật;
b) Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với người
khác thì việc kết hôn đó vẫn có hiệu lực pháp luật.
3. Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn.
Trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng được giải quyết theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình”.
[3]. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Duy Tr phải chịu 300.000đồng tiền lệ phí giải quyết việc dấn sự nhưng được khấu trừ số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phó mà ông Tr đã nộp theo biên lai thu số 0003382 ngày 08 tháng 5 năm 2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
[4]. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời gian 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra Quyết định./.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - VKSND khu vực 2 - Nghệ An; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đặng Thị PH |