- Tranh chấp gì? Các yêu cầu khác về dân sự — án dân sự — "Đào Văn T - Đào Thị L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Đào Văn T đối với chị Đào Thị L1, sinh năm 2002; Nơi cư trú cuối cùng: xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------------- Số: 02/2026/QĐST-VDS SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ | Thái Nguyên, ngày 06 tháng 7 năm 2026 |
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- THÁI NGUYÊN
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Minh Lý
Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Tuyến -Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4
- Thái Nguyên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên tham gia phiên họp: Bà Vũ Hồng L - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Dân sự thụ lý số: 03/2025/TLST-VDS ngày 06 tháng 11 năm 2025, về việc: “Yêu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2026/QĐPH-ST ngày 03 tháng 06 năm 2026.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Đào Văn T, sinh năm 1947;
Nơi thường trú: xóm Thống Nhất, xã Trung Hội, tỉnh Thái Nguyên.
Nay là: Xóm Tân Lợi, xã Trung Hội, tỉnh Thái Nguyên.
( Ông T có mặt tại phiên họp)
Người liên quan đến yêu cầu: Chị Đào Thị L1, sinh năm 2002;
Nơi thường trú: xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên.
Nay là: Xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai và tại phiên họp Đào Văn T trình bày:
Ông là ông nội của chị Đào Thị L1, sinh năm 2002. Bố mẹ chị L1 ly hôn và đi làm ăn xa hiện nay gia đình cũng không liên lạc được. Chị Đào Thị L1 ở với vợ chồng ông từ năm chị L1 lên 2 tuổi. Ngày 29/07/2022 chị L1 không kết hôn nhưng sinh 01 bé gái đặt tên là là Đào Thị Huyền D. Ngày 23/01/2023 chị L1 bỏ nhà đi, khoảng 3 đến 5 ngày sau thì chị L1 liên lạc về cho gia đình, nhưng từ đấy gia đình đã không còn liên lạc được với chị L1 nữa. Hiện nay cháu D do vợ chồng ông chăm sóc từ khi mới sinh ra. Dù gia đình ông đã tìm kiếm chị L1 nhiều nơi nhưng vẫn không có kết quả hay thông tin gì về chị L1.
Ông đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4- Thái Nguyên tuyên bố chị Đào Thị L1, sinh năm 2002; Nơi cư trú cuối cùng: Xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên (trước sáp nhập: xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên) mất tích để ông làm các thủ tục pháp lý cho cháu Đào Thị Huyền D theo đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Thái Nguyên tại phiên họp: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và của người tham gia tố tụng về cơ bản đúng quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết vụ việc, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu Tuyên bố một người mất tích của ông Đào Văn T đối với chị Đào Thị L1.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 4 -Thái Nguyên nhận định:
. Về tố tụng:
Ông Đào Văn T có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với Đào Thị L1, sinh năm 2002; Nơi cư trú cuối cùng: Xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên (trước sáp nhập: xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên theo quy định tại khoản 3 Điều 27, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
2.1: Ông Đào Văn T có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Đào Thị L1, sinh năm 2002 mất tích. Sau khi thụ lý việc dân sự đối với yêu cầu của ông T. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương kết quả như sau: “Chị Đào Thị L1, sinh năm 2002 có đăng ký hộ khẩu tại xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên, là cháu nội ông Đào Văn T, bố đẻ chị L1 là anh Đào Quang T1 sinh năm 1979 là con đẻ ông Đào Văn T, bố mẹ đẻ chị L1 hiện không có mặt tại địa phương, chị L1 ở với ông T từ bé....”
Tòa án nhân dân khu vực 4-Thái Nguyên đã ra Thông báo tìm kiếm tin tức của chị Đào Thị L1 trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể: Thông báo tìm kiếm trên B 03 số liên tiếp là số 06; 07; 08 ra các ngày 21; 23 và ngày 28/01/2026; Nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam vào 11 giờ 25 phút các ngày 30,31/01/2026 ; 15h00-16h00 ngày 01/02/2026; nhắn tin trên cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh T. Tuy nhiên, đã hết thời hạn 4 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không xác định được bất kỳ tin tức gì của chị Đào Thị L1.
2.2: Theo quy định tại điều 68 Bộ luật Dân sự:
“Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”
Như vậy, có thể xác định chị Đào Thị L1 đã biệt tích trên 02 năm, kể từ ngày biết tin tức cuối cùng là khoảng ngày 28/01/2023, mặc dù đã được áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị L1 còn sống hay đã chết. Cho nên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Đào Văn T về việc yêu cầu tuyên bố chị Đào Thị L1 mất tích.
. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Miễn lệ phí việc dân sự cho ông Đào Văn T, do ông T là người cao tuổi và có đơn xin miễn lệ phí.
. Về chi phí tố tụng: Ông Đào Văn T phải chịu chi phí đăng thông báo tìm kiếm.
. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thái Nguyên là có căn cứ, nên cần chấp nhận.
. Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27; Điều 35; Điều 39; Điều 366, 367; 369; 370; 371; 372; 388; 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu; miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Đào Văn T đối với chị Đào Thị L1, sinh năm 2002; Nơi cư trú cuối cùng: xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên. (nay là Xóm T, xã T, tỉnh Thái Nguyên). Tuyên bố chị Đào Thị L1, sinh năm 2002 mất tích.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm:
- Miễn lệ phí việc dân sự cho ông Đào Văn T, do ông T là người cao tuổi và có đơn xin miễn lệ phí .
-Về chi phí tố tụng: Ông Đào Văn T phải chịu 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền chi phí đăng tin trên Trung tâm Q (V). (Ông T đã thanh toán xong).
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
- Người yêu cầu có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 -Thái Nguyên có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 4 – Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Phòng THADS khu vực 4- Thái Nguyên - UBND xã Trung Hội, tỉnh TN; - Công an xã Trung Hội, tỉnh TN; - Lưu: Hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Minh Lý |