vanban.org

Quyết định 02/2026/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai.

Tuyên bố: Hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật: Chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A phải chấm dứt quan hệ vợ chồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Xã Trịnh Tường - Tẩn Thị Hồng - Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật"
  • Tòa quyết gì? Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2026/QĐST-HNGĐLào Cai, ngày 28 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật”

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Thanh Hương

Thư ký phiên họp: Bà Cao Hải Lanh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7

- Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lào Cai tham gia phiên họp: Bà Lục Thị Ngọc Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai. Mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 16/2026/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2026 về việc “Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/QĐ-TA ngày 20 tháng 4 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện: Bà Lù Thị Sinh – sinh năm 1983; chức vụ: Chủ Tịch

Địa chỉ: thôn M, xã T, tỉnh Lào Cai.

CCCD: 010185004336 ngày cấp 23/10/2025, Nơi cấp: Bộ công an.

(vắng mặt tại phiên họp và có đơn xin giải quyết vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Tẩn Thị H - sinh ngày 25/9/1996

Địa chỉ: thôn B, xã T, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt và có đơn xin giải quyết

vắng mặt).

CCCD: 010196000314 ngày cấp 14/8/2022; Nơi cấp: Cục CSQLHC về

TTXH.

+ Anh Tẩn A - sinh ngày 13/2/1992

Địa chỉ: thôn B, xã T, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt và có đơn xin giải quyết

vắng mặt).

CCCD:010092000438.

+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Tẩn Thị H: Bà Nguyễn Thị Hương Thủy – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. (có mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

1. Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 31/3/2026 và bản tự khai của người đại diện theo pháp luật Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T bà Lù Thị Sinh trình bày: Ngày 18/9/2013 Ủy ban nhân dân xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (cũ) nay là xã T, tỉnh Lào Cai đã làm thủ tục đăng ký kết hôn cho anh Tẩn A và chị Tẩn Thị H theo giấy Chứng nhận kết hôn số 40/2013 ngày 18/9/2013. Trong quá trình xác minh để làm thủ tục đăng ký kết hôn cho anh Tẩn A và chị Tẩn Thị H, Uỷ ban nhân dân xã Cốc Mỳ không phát hiện được tại thời điểm đăng ký kết hôn chị Tẩn Thị H sinh ngày 25/9/1996. Khi làm thủ tục đăng ký kết hôn do có sự nhầm lẫn nên chị Tẩn Thị H khai sai ngày tháng sinh. Chị Tẩn Thị H khai ngày 15/8/1996 nên tại thời điểm đăng ký kết hôn thì đảm bảo độ tuổi theo quy định. Tuy nhiên trên thực tế căn cứ vào giấy tờ tùy thân của chị Tẩn Thị H như bản sao giấy khai sinh, căn cước công dân, bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, Học bạ trung học cơ sở, xác nhận thông tin về nơi cư trú của Công an xã T, tỉnh Lào Cai thì phát hiện chị Tẩn Thị H đều sinh ngày 25/9/1996 thì lúc đăng ký kết hôn chị Tẩn Thị H mới được 16 tuổi 11 tháng 24 ngày. Do đó, tại thời điểm đăng ký kết hôn chị Tẩn A Hồng chưa đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000. Ngoài ra chị Tẩn Thị H không vi phạm điều kiện kết hôn nào khác của Luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy người đại diện theo pháp luật Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T bà Lù Thị Sinh đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lào Cai xem xét hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Tẩn A và chị Tẩn Thị H theo giấy chứng nhận kết hôn số 40/2013 được Ủy ban nhân dân xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát (cũ) cấp ngày 18/9/2013 theo quy định của pháp luật.

2. Theo bản tự khai của chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A đều trình bày: Khi làm thủ tục đăng ký kết hôn, do có sự nhầm lẫn chị Tẩn Thị H khai ngày tháng năm 15/8/1996 nên tại thời điểm đăng ký kết hôn thì đảm bảo độ tuổi theo quy định. Thực tế chị Tẩn Thị H sinh ngày 25/9/1996 nay căn cứ vào các giấy tờ tùy thân như: bản sao giấy khai sinh, căn cước công dân, bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, học bạ trung học cơ sở, xác nhận thông tin về nơi cư trú của Công an xã T đã vi phạm điều kiện kết hôn là chưa đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Sau khi kết hôn chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong làm ăn kinh tế, nuôi dậy con cái dẫn đến thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống không có hạnh phúc, chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A đã sống ly thân từ năm 2025 cho đến nay không có quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Nay Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A thì anh chị đều nhất trí.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A có với nhau 02 con chung cháu Tẩn Quốc C - sinh ngày 15/11/2013 và cháu Tẩn Nhật V

- sinh ngày 31/8/2017. Anh Tẩn A và chị Tẩn Thị H đề nghị Tòa án công nhận việc nuôi con như sau: Anh Tẩn A trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai cháu Tẩn Quốc C - sinh ngày 15/11/2013 và cháu Tẩn Nhật V - sinh ngày 31/8/2017 đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Tẩn A không yêu cầu chị Tẩn Thị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A xác nhận trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Lào Cai phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến phiên họp hôm nay: Thẩm phán, Thư ký đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật, người yêu cầu chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng giải quyết việc dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị:

Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 367; điểm h Khoản 1 Điều 369; Điều 370; Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị giải quyết theo hướng:

Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận yêu cầu của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai, Người đại diện: Bà Lù Thị Sinh hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A.

Hậu quả pháp lý của việc huỷ hôn nhân trái pháp luật: Chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A phải chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Tẩn Quốc C - sinh ngày 15/11/2013 và cháu Tẩn Nhật V - sinh ngày 31/8/2017 cho anh Tẩn A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Sau khi chấm dứt quan hệ vợ chồng người không trực tiếp nuôi con chị Tẩn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tẩn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về lệ phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 146 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai không phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nhất trí với ý kiến của chị Tẩn Thị H đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A có với nhau 02 con chung cháu Tẩn Quốc C - sinh ngày 15/11/2013 và cháu Tẩn Nhật V

- sinh ngày 31/8/2017 đề nghị Tòa án công nhận việc nuôi con như sau: Anh Tẩn A trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai cháu Tẩn Quốc C - sinh ngày 15/11/2013 và cháu Tẩn Nhật V - sinh ngày 31/8/2017 đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tẩn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A xác nhận trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Về yêu cầu “Hủy việc kết hôn trái pháp luật” của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật. Đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai theo quy định tại Điều 29, Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên họp, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai người đại diện bà Lù Thị Sinh và chị Tẩn Thị H, anh Tẩn A đều có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt tại phiên họp, căn cứ khoản 2, 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vắng mặt người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Kèm theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, người yêu cầu đã nộp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2013, ngày 18/9/2013 của Ủy ban nhân dân xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai (nay là xã T, tỉnh Lào Cai) có ghi chị Tẩn Thị H sinh ngày 15/8/1996. Tuy nhiên, người yêu cầu cung cấp các tài liệu, chứng cứ gồm bản sao Căn cước công dân, bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, học bạ trung học cơ sở, xác nhận thông tin về nơi cư trú của Công an xã T, Giấy khai sinh bản sao đều thể hiện chị Tẩn Thị H, sinh ngày 25/9/1996. Do đó tại thời điểm đăng ký kết hôn chị Tẩn Thị H đã vi phạm điều kiện về độ tuổi kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, khi kết hôn chị Tẩn Thị H mới 16 tuổi 11 tháng 24 ngày theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định thì “ Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên”. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A là trái pháp luật. Vì vậy việc Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A là có căn cứ đúng theo quy định tại điểm a Điều 8; điểm d khoản 2 Điều 10, khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC- VKSNDTC- BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A.

. Về hậu quả của việc hủy kết hôn trái pháp luật: Tại bản tự khai chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A đều xác nhận anh chị phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không hòa thuận không có hạnh phúc, đã sống ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay không có quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế nên Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai đề nghị Tòa án giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật anh Tẩn A, chị Tẩn Thị H đều nhất trí, căn cứ vào khoản 1 Điều 12 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A phải chấm dứt quan hệ vợ chồng.

. Về con chung: Chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A có với nhau 02 con chung cháu cháu Tẩn Quốc C - sinh ngày 15/11/2013 và cháu Tẩn Nhật V - sinh ngày 31/8/2017 nên khi Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A nhất trí việc hủy kết hôn trái pháp luật và đề nghị Tòa án công nhận việc nuôi con như sau: Anh Tẩn A trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc hai cháu Tẩn Quốc C - sinh ngày 15/11/2013 và cháu Tẩn Nhật V - sinh ngày 31/8/2017 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tẩn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tài sản: Chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai không phải chịu lệ phí yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367; điểm h Khoản 1 Điều 369; Điều 370; Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 8, điểm d khoản 2 Điều 10, Điều 11, Điều 12; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm d khoản 2 Điều 11 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên bố:

1.Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai.

Tuyên bố: Hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A.

Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật: Chị Tẩn Thị H và anh Tẩn A phải chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Về quan hệ con chung: Giao Tẩn Quốc C - sinh ngày 15/11/2013 và cháu Tẩn Nhật V - sinh ngày 31/8/2017 cho anh Tẩn A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Sau khi chấm dứt quan hệ vợ chồng người không trực tiếp nuôi con chị Tẩn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Tẩn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

2.Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam xã T, tỉnh Lào Cai không phải chịu tiền lệ phí sơ thẩm yêu cầu giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được Quyết định. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (Mười lăm ngày) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ