vanban.org

Quyết định 02/2026/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Duy B.

Tuyên bố ông Ngô Gia N, sinh năm 1975; CMND số: xxxxxxxxx; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng là người đã chết. Ngày chết của ông Ngô Gia N là ngày 20/4/2025. Kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "02 QĐVDS Ngô Duy B - Ngô Gia N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Duy B.
  • Căn cứ chính? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2026/QĐST-DSHải Phòng, ngày 10 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNHSƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Kim Giang

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 116/2025/TLST-VDS ngày 21/10/2025 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2026/QĐST-VDS ngày 25/3/2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Ngô Duy B, sinh ngày 18/10/2001; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt, có đơn đề nghị mở phiên họp vắng mặt.

2. Người bị yêu cầu: Ông Ngô Gia N, sinh năm 1975; CMND số: xxxxxxxxx;

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Vũ Thị L, sinh ngày 21/3/1977; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng.

3.2. Chị Ngô Thị L1, sinh ngày 09/9/1997; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng.

3.3. Cụ Nguyễn Thị K, sinh ngày 19/4/1943; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng.

Anh B, ông N, bà L, chị L1, cụ K đều vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Ngô Duy B và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

Bố đẻ anh là ông Ngô Gia N, mẹ đẻ anh là bà Vũ Thị L. Ông N, bà L có 02 người con là anh và chị Ngô Thị L1. Ngoài 02 người con đẻ, ông N không có con nào khác. Bố mẹ đẻ ông N là cụ Nguyễn Thị K và cụ Ngô Gia B1 (cụ B1 mất ngày 17/10/2009). Ông N bỏ nhà đi từ ngày 01/3/2010, sau đó không có liên lạc gì với gia đình. Anh và gia đình đã tìm kiếm nhiều nhưng không có thông tin gì về ông N. Tháng 01/2021, anh có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tuyên bố ông Ngô Gia N mất tích. Ngày 04/4/2022, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã ra Quyết định số 01/2022/QDDST-DS tuyên bố ông Ngô Duy N1 mất tích. Kể từ thời điểm đó đến nay, anh và gia đình vẫn tiến hành tìm kiếm nhưng không có tin tức gì về ông N1. Nay anh đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng tuyên bố ông Ngô Gia N là đã chết theo quy định của pháp luật.

- Cụ Nguyễn Thị K, bà Vũ Thị L, chị Ngô Thị L1 và Ủy ban nhân dân xã T đều xác định: Từ tháng 3/2010, ông N bỏ nhà đi, không có liên lạc với ai, không ai biết ông N đi đâu, làm gì. Ngày 04/4/2022, sau khi Tòa án nhân dân huyện Nam Sách tuyên bố ông Ngô Duy N1 mất tích, gia đình và địa phương cũng không ai có thông tin gì của ông N1. Nay anh B đề nghị tòa án yêu cầu tuyên bố ông Ngô Gia N là đã chết, cụ K, bà L, chị L1 và Ủy ban nhân dân xã T đều có quan điểm đề nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại công văn số 4324/XNC-Đ1 ngày 09/12/2025, Phòng quản lý xuất nhập cảnh, Công an thành phố H xác định: Không có thông tin xuất nhập cảnh của ông Ngô Gia N.

Tại phiên họp: Anh B, cụ K, bà L2, chị L1 đều có văn bản xin vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố ông Ngô Gia N là đã chết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng có quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết việc: Đề nghị Tòa án Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Các Điều 149, 370, 371, 372, 393 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 71, 72 Bộ luật dân sự; Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội khóa 15; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Duy B. Tuyên bố ông Ngô Gia N, sinh năm 1975; CMND số: xxxxxxxxx; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng là người đã chết. Ngày chết của ông Ngô Gia N là ngày 20/4/2025. Anh Ngô Duy B phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng nhận định:

. Về tố tụng:

Ông Ngô Gia N là người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết, có nơi cư trú cuối cùng tại thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng. Anh Ngô Duy B - con trai ông N yêu cầu tuyên bố ông N là đã chết, Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội khóa 15.

Cụ K, bà L, chị L1, anh B có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, do đó, căn cứ vào Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt.

. Về nội dung:

Ngày 04/4/2022, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã ra Quyết định số 01/2022/QĐST-DS tuyên bố ông Ngô Gia N mất tích và Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 20/4/2022. Tính đến nay đã quá 03 năm kể từ ngày Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án đối với ông N có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có thông tin xác thực là ông N còn sống; người yêu cầu cũng đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định pháp luật. Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố ông N đã chết, ngày 10/11/2025, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông Ngô Duy N1. Thông báo đã được phát thanh trên Đài tiếng nói Việt Nam VOV ba lần trong ba ngày liên tiếp là các ngày 19, 20, 21 tháng 11 năm 2025 và đăng trên báo Công Lý trong ba số báo liên tiếp 99, 100, 101 vào các ngày 10/12/2025, ngày 12/11/2025, ngày 17/12/2025, đồng thời đã được đăng trên Cổng thông tin điện tử thành phố Hải Phòng, đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng). Tuy nhiên, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì của ông Ngô Gia N; ông N cũng không liên lạc với gia đình. Do vậy, việc anh Ngô Duy B yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Ngô Gia N đã chết là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật tại điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 391, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận.

Về hậu quả pháp lý: Kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông N được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của ông Ngô Gia N được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông N được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế theo quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự.

Về lệ phí: Anh Ngô Duy B phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Các Điều 149, 370, 371, 372, 393 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 71, 72 Bộ luật dân sự; Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội khóa 15; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Ngô Duy B.

Tuyên bố ông Ngô Gia N, sinh năm 1975; CMND số: xxxxxxxxx; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng là người đã chết. Ngày chết của ông Ngô Gia N là ngày 20/4/2025.

Kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông N được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của ông Ngô Gia N được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông N được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Về lệ phí: Anh Ngô Duy B phải chịu 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí anh B đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai ký hiệu: BLTU/25E, số 0004617 ngày 21 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh B đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự, hoặc kể từ ngày quyết định giải quyết việc dân sự được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.

Cỡ chữ