vanban.org

Quyết định 02/2026/QĐ-PT

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 31/03/2026 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa một phần quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 02/2026/QĐ-ST ngày 05 tháng 01 năm 2026 Toà án nhân dân khu vực 4-Cần Thơ.

Tuyên xử: Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 05/2025/TLST - HC ngày 13/10/2025 về khiếu kiện quyết định hành chính giữa: Người khởi kiện: Ông Lê Văn L, sinh năm 1966 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Văn L-CT UBND P T"
  • Tòa quyết gì? Sửa một phần quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 02/2026/QĐ-ST ngày 05 tháng 01 năm 2026 Toà án nhân dân khu vực 4-Cần Thơ.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 123 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải; Điều 123 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2026/QĐ-PTCần Thơ, ngày 31 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Trịnh Thị Bích Hạnh

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Tiến Dũng

Bà Trần Thị Thanh Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên họp: Ông Bùi Văn Bảo - Kiểm sát viên.

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Ngô Mỹ Yên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 02/2026/QĐ-ST ngày 05 tháng 01 năm 2026.

Toà án nhân dân khu vực 4 đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, điểm d khoản 1 Điều 123, Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án về: “Khiếu kiện quyết định hành chính” giữa:

Người khởi kiện: Ông Lê Văn L, sinh năm 1966

Địa chỉ: Khu vực L, phường L, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ liên hệ: Số 29, đường V, phường C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ: Khu vực P, phường T, thành phố Cần Thơ. (có đơn xin vắng)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Trương Thị A;

Địa chỉ: Khu vực L, phường L, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Thị A là: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1953 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 4, xã H, thành phố Cần Thơ.

2/ Lê Thị N;

3/ Lê Thị A;

4/ Lê Thị D;

5/ Lê Quốc K;

6/ Lê Thị K.

Cùng địa chỉ: Khu vực L, phường L, thành phố Cần Thơ.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 13 tháng 01 năm 2026 của người khởi kiện ông Lê Văn L kháng cáo với lý do:

Thứ nhất, ngày 10/01/2026 ông nhận được quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 02/2026/QĐ-ST ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ về việc đình chỉ giải quyết vụ án do vụ án đã được giải quyết bằng bản án của Tòa án. Thời hạn kháng cáo là 07 ngày kể từ ngày ông nhận được quyết định, như vậy tính đến thời điểm này ông vẫn có quyền kháng cáo quyết định trên.

Thứ hai, quyết định trên của Tòa cấp sơ thẩm chưa xem xét hết toàn bộ tài liệu chứng cứ, tình tiết khách quan có trong hồ sơ vụ án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Bởi lẽ, theo hình thể trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp lần đầu cũng như được cấp đổi thì phần đất của ông là hình chữ nhật và đường giáp ranh với phần đất của ông Đ là đường thẳng không bị gấp khúc, không bị khuyết một góc. Nhưng tại bản trích đo địa chính, phần đất của ông bị khuyết một góc và Uỷ ban nhân dân ghi nhận hình thể này là đúng là không phù hợp.

XÉT THẤY:

Năm 2017, ông Lê Văn L khởi kiện ông Lê Văn Đ yêu cầu ông Đ trả lại cho ông phần đất diện tích 106,6m2 tại thửa 1025 tờ bản đồ số 02 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND Quận Thốt Nốt cấp cho ông năm 1990. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 27/2017/DS-ST ngày 05/7/2017 và bản án dân sự phúc thẩm số 167/2017/DS-PT ngày 31/10/20217 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã nhận định, ông L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1025 diện tích 229m2 qua đo đạc diện tích đất ông thiếu 126,4m2, ông Lê Văn Đ được cấp giấy chứng nhận thửa 1024 có diện tích 414m2, qua đo đạc đất ông Đ thiếu 62,4m2. Từ đó xác định không có căn cứ cho rằng ông Đ lấn đất của ông và cũng không có việc chính quyền địa phương cấp trùng thửa đất 1025 của ông sang thửa 1024 của ông Lê Văn Đ, đất hai bên đều thiếu là do thời điểm cán bộ đo đạc bằng tay xác định ranh chưa chính xác và thực tế kích thước trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L không phù hợp với diện tích thực tế sử dụng. Tại phần quyết định của bản án đã tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L về việc buộc ông Lê Văn Đ trả lại diện tích đất 106,6m2 loại đất ODT, đồng thời đã xác định ranh giới thửa 1024 và 1025 theo như hiện trạng các bên đang sử dụng.

Bản án đã có hiệu lực thi hành. Nay ông khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Văn Đ cho rằng Ủy ban cấp trùng đất của ông từ thửa 1025 sang thửa 1024 của ông Đ. Xét thấy đây là yêu cầu đã được xem xét giải quyết, cấp sơ thẩm căn cứ điểm d khoản 1 Điều 123; Điều 143; Điều 144 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải quyết vụ án hành chính đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L là đúng quy định.

Tuy nhiên, căn cứ khoản 3 Điều 18 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thu, miễn, giảm tiền tạm ứng án phí, lệ phí quy định trường hợp Tòa án đình chỉ theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính thì tiền tạm ứng án phí được trả lại cho đương sự, cấp sơ thẩm tịch thu sung công quỹ nhà nước là không đúng quy định. Do vậy, Hội đồng xét phiên họp sửa một phần quyết định đình chỉ, trả lại tiền tạm ứng án phí cho ông Lê Văn L.

Từ những nhận định trên;

Căn cứ vào điểm b khoản 5 Điều 243; điểm h khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính;

Khoản 3 Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn L. Sửa một phần quyết định số 02 ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4-Cần Thơ về án phí.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Sửa một phần quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 02/2026/QĐ-ST ngày 05 tháng 01 năm 2026 Toà án nhân dân khu vực 4-Cần Thơ.

Tuyên xử: Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 05/2025/TLST - HC ngày 13/10/2025 về khiếu kiện quyết định hành chính giữa:

Người khởi kiện: Ông Lê Văn L, sinh năm 1966

Địa chỉ: Khu vực Lân Thạnh 1, phường Tân Lộc, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ liên hệ: Số 29, đường Võ Văn Kiệt, phường Cái Khế, thành phố Cần Thơ.

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ: Khu vực Phước Lộc, phường Tân Lộc, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trương Thị A, có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thanh Hùng (có mặt), Lê Thị Nguyệt, Lê Thị Nga, Lê Thị Duyên, Lê Quốc Khánh, Lê Thị Kiều.

2. Hậu quả của việc đình chỉ: Đương sự không có quyền khởi kiện lại vụ án hành chính này về cùng sự việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

3. Án phí hành chính sơ thẩm: ông Lê Văn L được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004795 ngày 09/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

4. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Lê Văn L là người cao tuổi nên được miễn.

5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định, ngày 31 tháng 3 năm 2026.

Cỡ chữ