- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "tân- tâm"
- Tòa quyết gì? Về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH QU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2025/QĐST-HNGĐ | B, ngày 18 tháng 02 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TỈNH QU
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhạn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thương - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Qu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2025/TLST-VHNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 về việc “Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2025/QĐST-VHNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ông Hồ Đăng T, sinh ngày 19/5/1971; nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Qu; có mặt.
Bà Hồ Thị T, sinh ngày 14/02/1969; nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Qu; có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai của ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T trình bày:
Ông Hồ Đăng T, sinh ngày 19/5/1971 và bà Hồ Thị T, sinh ngày 14/02/1969 có quá trình tìm hiểu tự nguyện đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn ngày 20/11/1988 tại Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã Đ, huyện B, tỉnh Qu. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng đã tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và làm ăn sinh sống ổn định tại xã Đ cho đến nay. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, vợ Hồ Thị T đã đủ tuổi đăng ký kết hôn còn chồng Hồ Đăng T chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Do hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên vợ chồng ông bà tự khai ngày tháng năm sinh với cán bộ tư pháp xã cho chồng Hồ Đăng T, sinh ngày 19/5/1971 thành Hồ Đăng T, sinh năm 1969 để đủ điều kiện đăng ký kết hôn. Khi đăng ký kết hôn vợ chồng ông bà chỉ khai thông tin cho cán bộ tư pháp xã chứ không nộp giấy tờ tùy thân và cán bộ tư pháp xã cũng không yêu cầu ông bà xuất trình giấy tờ. Khi làm thủ tục đăng ký kết hôn cho ông bà, cán bộ tư pháp xã đã ghi tên, tuổi, địa chỉ theo lời khai của ông bà. Từ khi kết hôn đến nay ông T và bà T chung sống hạnh phúc và sinh được 04 người con tên là Hồ Thị Phương, sinh năm 1989; Hồ Thị Thuý, sinh năm 1991; Hồ Thị Thắm, sinh năm 1994 và Hồ Đăng Huy, sinh năm 1996. Tuy nhiên, ông bà nhận thấy việc đăng ký kết hôn năm 1988 của vợ chồng là trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến quá trình làm thủ tục giấy tờ pháp lý cho gia đình và các con. Do đó, ông T và bà T đề nghị Tòa án nhân dân huyện B hủy việc đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 168, trang 39 ngày 20/11/1988 tại Uỷ ban nhân dân xã Đ và công nhận hôn nhân hợp pháp cho vợ chồng ông bà kể từ ngày ông Hồ Đăng T đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 20/5/1990.
Tại Biên bản xác minh ngày 21/01/2025, UBND xã Đ xác nhận: theo Sổ đăng ký kết hôn Quyển số: 01/1988 lưu trữ tại UBND xã Đ, tại số thứ tự 168, trang 39 ngày 20/11/1988 có đăng ký kết hôn cho ông Hồ Đăng T, sinh năm 1969 và bà Hồ Thị T, sinh năm 1969. Ngoài sổ cấp giấy chứng nhận kết hôn năm này thì UBND xã Đ không còn lưu trữ hồ sơ, tài liệu gì liên quan đến việc đăng ký kết hôn của ông T và bà T. Tại thời điểm năm 1988, ông T và bà T tự kê khai thông tin cá nhân nên việc ông T, bà T cố tình khai thông tin năm sinh sai để đủ tuổi đăng ký kết hôn và không nộp kèm theo giấy tờ tùy thân để lưu trữ hồ sơ đăng ký kết hôn. Nay, ông T và bà T có yêu cầu đề nghị Tòa án hủy đăng ký kết hôn trái pháp luật và công nhận hôn nhân hợp pháp cho ông bà thì UBND xã Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
UBND xã Đ đã xác nhận: Ông Hồ Đăng T, sinh ngày 19/5/1971 tại Giấy Chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxxx, cấp ngày 19/9/1991; số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 24/6/2021 với ông Hồ Đăng T, sinh năm 1969 tại Sổ đăng ký kết hôn 01/1988 là một người.
Ông Hồ Đăng T cũng xác định ngày, tháng, năm sinh thực tế, đúng của ông là ngày 19/5/1971.
* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện B thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo yêu cầu của ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 29, khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến phiên họp: Thẩm phán, Thư ký đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng giải quyết việc dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và trình bày của các đương sự. Đề nghị áp dụng Điều 149, Điều 366, Điều 367, Điều 369, 370, 371 và Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5 và 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư Liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã xác định được ngày tháng năm sinh đúng của ông Hồ Đăng T là ngày 19/5/1971. Tại thời điểm đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, ông T và bà T cố tình kê khai thông tin năm sinh sai để đủ tuổi đăng ký kết hôn. Nhưng trên thực tế theo giấy tờ tuỳ thân, ông T chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn, đã vi phạm quy định về độ tuổi đăng ký kết hôn vì vậy hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Sổ đăng ký kết hôn số: 168, Quyển số 01/1988 ngày 20/11/1988 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Qu đã cấp cho ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T. Công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T từ thời điểm ông Hồ Đăng T đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 20/5/1990.
Về lệ phí: Ông T và bà T phải nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện B nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu của ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T thì đây là việc dân sự yêu cầu “Hủy việc kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn hợp pháp”. Ông T và bà T cư trú tại thôn Nam Đức, xã Đ, huyện B, tỉnh Qu theo quy định tại khoản 1 Điều 29, khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Qu.
Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật: Xác định thời điểm kết hôn trên cơ sở tự nguyện giữa ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T được thể hiện tại Sổ đăng ký kết hôn số 168, Quyển số 01 ngày 20/11/1988 của Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Qu. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp xác định được ngày tháng năm sinh đúng của ông Hồ Đăng T là ngày 19/5/1971; như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn bà T đã 19 tuổi 09 tháng 06 ngày; ông T mới 17 tuổi 06 tháng 1 ngày. Căn cứ Điều 5 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, ông Hồ Đăng T đã vi phạm quy định về độ tuổi đăng ký kết hôn. Nay, ông T và bà T yêu cầu Toà án huỷ kết hôn trái pháp luật là có căn cứ theo quy định tại Điều 5 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 nên được chấp nhận.
Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp: Từ khi đăng ký kết hôn đến thời điểm hiện nay, ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T vẫn đang chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có con chung. Ông T và bà T đều có yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp từ thời điểm ông T đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 20/5/1990. Xét thấy, tại thời điểm ngày 20/5/1990, ông T đã 20 tuổi, bà T đã 22 tuổi. Như vậy, ông T và bà T đã đủ tuổi kết hôn theo quy định tại khoản Điều 5 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Căn cứ khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư Liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T từ thời điểm ông hồ Đăng T đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 20/5/1990.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 29, khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, Điều 366, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 5, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 2 Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư Liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên:
1. Về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật: Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T.
Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 168, Quyển 01/1988 ngày 20/11/1988 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Qu đã cấp cho ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T.
2. Về yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp của ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T:
Chấp nhận yêu cầu của ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T, công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa ông Hồ Đăng T, sinh ngày 19/5/1971 và bà Hồ Thị T, sinh ngày 14/02/1969 kể từ thời điểm ông Hồ Đăng T đủ tuổi đăng ký kết hôn là ngày 20/5/1990.
3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Hồ Đăng T và bà Hồ Thị T phải nộp mỗi người 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự. Ông Hồ Đăng T thống nhất chịu toàn bộ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số: 0002799 ngày 13/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Qu. Ông Hồ Đăng T đã nộp đủ tiền lệ phí.
4. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định giải quyết việc dân sự đối với người có mặt và 10 ngày kể từ ngày nhận được bản sao quyết định hoặc Quyết định được niêm yết theo quy định đối với người vắng mặt. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND xã Đ; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Toà án ND tỉnh Qu; - Lưu HS vụ án. | THẨM PHÁN (đã ký) Nguyễn Thị Hồng Thắm |