- Tranh chấp gì? "Lê Minh H đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh H.
- Căn cứ chính? Điều 18 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2025/QĐ-TA | V, ngày 13 tháng 01 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH P
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Đào Thị H.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Nh.
Ngày 13 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2025/QĐ -TA ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Lê Minh H, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1983.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Đội 01, khu Minh Tân, phường M, thành phố V, tỉnh P.
Hiện đang được quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại: Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh P - Cơ sở 2; địa chỉ: xã Tr, huyện P, tỉnh P.
Số CCCD: 025083011445; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Văn Th, sinh năm 1956 và bà Phạm Thị L (đã chết); Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định số: 09/2023/QĐ-TA ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về việc “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” với thời hạn 18 (Mười tám) tháng, chấp hành xong ngày 23/8/2024.
Nhân thân:
- Bản án hình sự số: 113/2007/HS-ST ngày 23/7/2007 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P xử phạt Lê Minh H 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” và pH nộp 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. H đã chấp hành xong hình phạt tù và đã thi hành xong đối với số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) án phí.
- Bản án hình sự số: 37/2008/HS-ST ngày 29/02/2008 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P xử phạt Lê Minh H 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và pH nộp 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. H đã chấp hành xong hình phạt tù và đã thi hành xong đối với số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) án phí.
- Bản án hình sự số: 179/2020/HS-ST ngày 26/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P xử phạt Lê Minh H 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và pH nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. H đã chấp hành xong hình phạt tù và đã thi hành xong đối với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí.
(Lê Minh H có đơn xin vắng mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lã Việt T - Chuyên viên Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố V, tỉnh P.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P: Bà Dương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
3. Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Không.
4. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị: Không.
5. Những người khác: Không.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, nội dung hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính được tóm tắt như sau: Lê Minh H là đối tượng đang được quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 84a/QĐ-UBND ngày 23/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường M, thành phố V, tỉnh P. Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 18/12/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy Heroine nên H một mình đi sang khu vực Sơn Tây, thành phố Hà Nội tìm và mua được 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của một người phụ nữ không quen biết. Sau khi mua được ma túy, trên đường H đi về nhà đã sử dụng hết ma túy cho bản thân bằng hình thức tiêm chích trực tiếp vào cơ thể. Đến khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 19/12/2024, Công an phường M, thành phố V, tỉnh P tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với H, kết quả H dương tính với nhóm ma túy Morphine, đồng thời Công an phường M đã có văn bản đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lê Minh H. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 20/12/2024 của Trung tâm điều dưỡng - Phục hồi chức năng tâm thần V xác định Lê Minh H có nghiện ma túy Heroine. Ngày 20/12/2024, Ủy ban nhân dân phường M tiến hành lập biên bản vi phạm đối với Lê Minh H vì đã có hành vi tái nghiện trong thời gian quản lý sau cai nghiện. Do vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, khoản 1 Điều 40 Nghị định: 116/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ thì Lê Minh H thuộc diện đối tượng cai nghiện ma túy bắt buộc do trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện. Chính vì vậy xét thấy cần có hình thức xử lý cao hơn nhằm giúp H có điều kiện sửa chữa khuyết điểm, sai phạm của bản thân trở thành công dân tốt nên ngày 20/12/2024 Công an phường M ra Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cho Lê Minh H. Gia đình của H từ chối quản lý trong thời gian đề nghị, do đó ngày 20/12/2024 Ủy ban nhân dân phường M ban hành Quyết định số: 149/QĐ-QLNN về việc giao cho Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh P - Cơ sở 2, địa chỉ: xã Trị Quận, huyện P, tỉnh P để quản lý Lê Minh H trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian quản lý bắt đầu từ ngày 20/12/2024.
Ngày 26/12/2024, Uỷ ban nhân dân phường M, thành phố V, tỉnh P ban hành văn bản Đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và chuyển hồ sơ đến Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố V, tỉnh P theo quy định tại khoản 1 Điều 41 và khoản 1 Điều 42 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ ngày 31/12/2024, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố V, tỉnh P có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh H.
Ngày 02/01/2025, Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P đã thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Lê Minh H. Ngày 06/01/2025 Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P đã ra Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với H và quyết định đã được tống đạt hợp lệ cho H nhưng H có đơn xin vắng mặt vì đang điều trị tại Trung tâm cai nghiện. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P tiến hành mở phiên họp vắng mặt Lê Minh H.
Tại phiên họp đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố V, tỉnh P vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị đưa Lê Minh H vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày 20/12/2024.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P tham gia phiên họp phát biểu quan điểm về việc tuân theo thủ tục, điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc và đề nghị đưa Lê Minh H vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 22 (Hai mươi hai) tháng đến 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày 20/12/2024.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố V, tỉnh P; Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P.
XÉT THẤY:
1. Tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính của Lê Minh H, Công an phường M, thành phố V, tỉnh P đã lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu H viết bản tường trình. Do H là đối tượng nghiện ma túy đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện. Do vậy, Công an phường M, thành phố V, tỉnh P đã lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh H và đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường M, thành phố V, tỉnh P có văn bản đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố V, tỉnh P xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh H theo Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ với lý do Lê Minh H vi phạm pháp luật do đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện. Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, khoản 1 Điều 40 Nghị định: 116/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy thì hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh H là đúng quy định của pháp luật.
2. Xét về nhân thân, tính chất mức độ hành vi vi phạm: Xét thấy, Lê Minh H là người nghiện ma túy từ nhiều năm nay, bản thân H là người có nhân thân xấu đã 03 lần bị Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, H vừa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm tỉnh Vĩnh Phúc theo Quyết định số: 09/2023/QĐ-TA ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về việc “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” với thời hạn 18 (Mười tám) tháng, H vừa về ngày 23/8/2024 và đang trong thời gian chấp hành Quyết định số: 84a/QĐ-UBND ngày 23/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường M về quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú nhưng H không lấy đó làm bài học để sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt mà bản thân lại tái phạm và tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của H gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, H đã không tu dưỡng, rèn luyện, thay đổi bản thân, nên xét thấy cần thiết pH đưa H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để H tiếp tục được điều trị cai nghiện ma túy, tại đây H có cơ hội chữa bệnh, học tập, rèn luyện trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng đảm bảo tính răn đe, nghiêm minh của pháp luật.
3. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: Lê Minh H không có tiền án nhưng là người có nhân thân xấu và có 01 tiền sự chưa được xóa tiền sự mà lại tiếp tục vi phạm pháp luật nên pH chịu 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tại cơ quan Công an, H đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Đại diện Phòng lao động, thương binh và xã hội thành phố V, tỉnh P đề nghị Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P xem xét đưa Lê Minh H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày 20/12/2024. Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh H thời hạn từ 22 (Hai mươi hai) tháng đến 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày 20/12/2024 nên Tòa án áp dụng thời hạn 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày 20/12/2024 đối với Lê Minh H là phù hợp.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, điểm b khoản 1 Điều 10, Điều 95, Điều 96, Điều 103, 104, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính và các Điều 18, 20, 21, 23, 24, 25, 31, 32, 33 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Minh H.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày 20/12/2024.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định; trường hợp vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
Nếu người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có khiếu nại thì pH gửi đơn đến Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P nêu rõ lý do và căn cứ khiếu nại; Cơ quan đề nghị kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P kháng nghị bằng văn bản gửi đến Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P nêu rõ lý do và căn cứ kiến nghị, kháng nghị.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố V, tỉnh P phối hợp với Công an thành phố V, tỉnh P có trách nhiệm thi hành quyết định này kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật./.
| Nơi nhận: - Trưởng Công an TP. V, T. P; - VKSND TP. V, T. P; - Phòng LĐ-TBXH TP. V, T. P; - Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh P; - UBND P. M, TP. V, T. P; - Lê Minh H; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đào Thị H |