vanban.org

Quyết định 02/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95 và khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020);

Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối vớ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "ĐÀO HỒNG P"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95 và khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020);
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG Đ
TỈNH TIỀN GIANG
Số: 02/2025/QĐ-TA
Gò Công Đ, ngày 06 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Ông Lưu Duy Mạnh.

Thư ký phiên họp: Bà Trịnh Hồ Hải Hương.

Ngày 06 tháng 01 năm 2024, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang, Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 129/2024/QĐ-TA ngày 26 tháng 12 năm 2024, đối với:

Họ và tên: Đào Hồng P3 (Tên gọi khác: Cu trắng), sinh ngày 24/03/2002.

Căn cước công dân số: 082202003631. Ngày cấp: 14/02/2022. Nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Giới tính: Nam.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 07/12.

Nguyên quán: xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: ấp D, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: Không

Tiền sự: 01 lần. Anh Đào Hồng P3 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện theo Quyết định số 44/2021/QĐ-TA ngày 29/09/2021 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông với thời gian chấp hành là 15 tháng. Anh P3 chấp hành xong ngày 23/05/2023.

Con ông Trương Hoài P (mất) và bà Đào Thị L.

Anh Đào Hồng P3 có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Phạm Hồng P1 – Trưởng Phòng Lao động

- Thương binh và Xã hội huyện Gò Công Đ.

Đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Hồng P1: Ông Thái Minh P2 – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G.

(Theo văn bản ủy quyền số 03/GUQ-PLĐTBXH ngày 06/01/2024 về việc tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông: Ông Võ Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G:

- Qua công tác điều tra nắm tình hình đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn, Công an xã T nghi vấn anh Đào Hồng P3 sử dụng trái phép chất ma túy nên mời anh đến trụ sở làm việc và đưa anh P3 đến Trung tâm y tế huyện G để xác định tình trạng nghiện, kết quả anh P3 dương tính với ma túy (Methamphetamine). Do đó, Công an xã T đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính theo biên bản vi phạm hành chính số 50/BB -VPHC ngày 13/12/2024. Căn cứ vào các tài liệu, Ủy ban nhân dân xã T giao Công an xã T lập hồ sơ áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đào Hồng P3.

- Trước đó, ngày 26/052023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân T, huyện G ban hành Quyết định số 29/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện đối với Đào Hồng P3 thời hạn là 02 năm, kể từ ngày 26/05/2023.

- Tại Văn bản ngày 06/01/2025 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G, căn cứ điểm d khoản 1 Điều 27 của Luật phòng chống ma túy và khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính, đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Hồng P3 tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

- Tại phiên họp, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị như Công văn nêu trên. Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Hồng P3 với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

- Người bị đề nghị anh Đào Hồng P3 trình bày: Anh Đào Hồng Phúc bắt đầu sử dụng ma túy vào năm 2019; năm 2021 Đào Hồng P3 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện theo Quyết định số 44/2021/QĐ-TA và chấp hành xong quyết định vào ngày 23/05/2023. Đến ngày 12/12/2024, anh P3 lại tiếp tục sử dung ma túy, loại ma túy đá.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông: Từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông đã thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Căn cứ Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020), đề nghị Tòa án giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Hồng P3 với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

[1] Về thẩm quyền và thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông thụ lý, xem xét hồ sơ là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020) và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đảm bảo về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020).

[2] Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Qua xem xét hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G được lập theo đúng quy định tại Điều 32 Luật phòng chống ma túy, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020) và khoản 1 Điều 41 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

[3] Theo lời khai nhận của anh Đ1 Hồng Phúc: Anh Đào Hồng P3 bắt đầu sử dụng ma túy vào năm 2019; năm 2021 Đào Hồng P3 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện theo Quyết định số 44/2021/QĐ-TA và chấp hành xong quyết định vào ngày 23/05/2023. Đến ngày 12/12/2024, anh P3 lại tiếp tục sử dụng ma túy, loại ma túy đá.

Lời khai nhận của anh P3 phù hợp với Phiếu kết quả ngày 13/12/2024 của Trung tâm y tế huyện G và Biên bản vi phạm hành chính số 50/BB -VPHC ngày 13/12/2024 của Công an xã T. Qua đối chiếu các tài liệu nhân thân của đối tượng đã đủ cơ sở xác định: Đào Hồng P3 là người nghiện ma túy đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện theo Quyết định số 44/2021/QĐ-TA ngày 29/09/2021 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông với thời gian chấp hành là 15 tháng, có nơi cư trú ổn định; sau khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện G ban hành Quyết định số 29/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện đối với anh Đào Hồng P3, anh vẫn không chịu cải sửa mà đến ngày 12/12/2024, anh lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên công an xã T tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy.

Xét thấy, anh P3 sau khi bị bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện theo Quyết định số 44/2021/QĐ-TA ngày 29/09/2021 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông và bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện, anh P3 vẫn không có ý thức tự giác cải sửa mà còn tiếp tục sử dụng ma túy; đồng thời, xét thấy tình hình tội phạm ma túy hiện nay đang diễn ra rất phức tạp, là vấn nạn nhức nhối của xã hội. Do đó cần áp dụng quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020) đưa anh P3 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để đối tượng được chữa bệnh, lao động, học tập dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện nhằm giúp anh sớm từ bỏ ma túy; đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống, ngăn ngừa các loại tội phạm về ma túy và các loại tội phạm khác có thể phát sinh nhằm ổn định trật tự xã hội tại địa phương. Anh P3 có nhân thân xấu, gồm 01 tiền sự nên cần áp dụng thời hạn 18 (Mười tám) tháng mới đủ đảm bảo giáo dục, đưa anh trở thành người có ích cho xã hội.

[5] Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông là hoàn toàn có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95 và khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi bổ sung năm 2020);

- Điều 32 Luật phòng chống, ma túy.

- Khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đào Hồng P3.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện G phối hợp với Công an huyện G đưa Đào Hồng P3 chấp hành quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh T. Nơi nhận:

THẨM -

PHÁN VKSND H.GCĐ;

- Phòng LĐ-TB&XH H.GCĐ;

Lưu

- Công an H.

Duy GCĐ

Mạnh (Đội CSĐT tội phạm về ma túy);

- UBND xã Tân Tây, H.GCĐ;

- Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh TG;

- Đào Hồng Phúc;

- Lưu HS.

Cỡ chữ