- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 4 Điều 388, Điều 392 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 02/2025/HS-GĐT Ngày 08 tháng 10 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng gồm
có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh – Chánh án.
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: Ông Trịnh Văn H, ông Nguyễn
Văn Quản, bà Vũ Thị Nguyệt, ông K’Tiêng, ông Vũ Đức H, ông Huỳnh Châu
Thạch, ông Nguyễn Anh Ửng, bà Vũ Thị Thanh Hòa, ông Nguyễn Hồng Thái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Khang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Văn Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng mở
phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1994 tại tỉnh Bình Thuận (nay là Lâm Đồng); Nơi
cư trú: Thôn B1, xã R1, huyện B2, tỉnh Bình Thuận (nay là thôn B1, xã B2, tỉnh
Lâm Đồng); Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá (học vấn): lớp 4/12; Dân tộc:
Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H4
và bà Nguyễn Thị V2; Tiền án: Ngày 29/6/2015 bị Tòa án nhân dân huyện B2, tỉnh
Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Lâm Đồng) xử phạt 07 tháng
20 ngày tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án hình
sự sơ thẩm số 42/2015/HS-ST; Tiền sự: không; Nhân thân: Vào ngày 09/12/2016
bị Tòa án nhân dân huyện T5, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân Khu vực
M4 – Lâm Đồng) xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự
sơ thẩm số 120/2016/HS-ST; Nguyễn Văn H đã chết ngày 18/9/2020.
- Bị hại:
1. Bà Lý Hoa M, sinh năm 1996
2. Ông Lý Mạnh C, sinh năm 1984
3. Bà Phạm Thị H3, sinh năm 1985
Cùng địa chỉ: Khu phố L1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh (nay là xã
T, tỉnh Quảng Ninh).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Dư Minh H1, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn B1, xã R1, huyện B2, tỉnh Bình Thuận (nay là thôn B1, xã B2,
tỉnh Lâm Đồng).
2. Ông Đỗ Hoàng T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn L, xã H5, huyện T5, tỉnh Bình Thuận (nay là thôn L, xã P2,
tỉnh Lâm Đồng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 00 giờ ngày 13/8/2016, Nguyễn Thanh T2 điều khiển xe mô tô nhãn
hiệu Yamaha loại Exiter, biển số 86B1 - 117.38 đến khu vực Cầu Nam, thị trấn P2, huyện T5 thì gặp Nguyễn Văn H. Do không có tiền tiêu xài nên H rủ T2 đi trộm cắp tài sản, T2 đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 86B1 - 117.38 chở H ngồi sau đi tìm nhà nào có tài sản để sơ hở sẽ trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi gần đến nhà bà Lưu Thị Nh ở thôn 1, xã Bình Thạnh, huyện T5, nhà của bà Nhân cho bà Phạm Thị H3, bà Lý Hoa M và ông Lý Mạnh C thuê để ở buôn bán hải sản. Thấy nhà mở cửa nên H bảo T2 dừng xe để H vào trộm cắp tài sản, T2 dừng xe lại cho H đi bộ đến đột nhập vào nhà bà Nhân thấy mọi người đang ngủ say, H lấy trộm túi xách đựng giấy tờ tùy thân và sổ sách bán hàng của bà M rồi lấy trộm 01 laptop hiệu Asus TP500L, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105-RM-1134 màu đen, 82 đồng tiền nhân dân tệ (tiền Trung Quốc gồm loại mệnh giá 10 nhân dân tệ 03 tờ, mệnh giá 20 nhân dân tệ 02 tờ, mệnh giá 5 nhân dân tệ 02 tờ, mệnh giá 01 nhân dân tệ 02 tờ) và 20.000 đồng tiền Việt Nam của bà Lý Hoa M, lấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 4 màu trắng của ông Lý Mạnh C, lấy 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Oppo Neo 7 màu đen của bà Phạm Thị H3, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 4 màu đen. H lấy tất cả tài sản bỏ vào trong túi xách rồi đi ra xe mô tô cho T2 chở về. T2 điều khiển xe mô tô chở H cùng tài sản trộm cắp về nhà H chia tài sản, H chia cho T2 01 điện thoại di động hiệu Iphone 4 màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen, số tài sản còn lại H cất giữ. Ngày 14/8/2016, H đem laptop hiệu Asus TP500L bán cho Đỗ Hoàng T được 4.000.000 đồng, H chia cho T2 1.800.000 đồng. Ngày 20/8/2016, H đem điện thoại di động hiệu Iphone 6 bán cho Dư Minh H1 được 5.000.000 đồng và bán điện thoại di động hiệu Oppo Neo 7 cho người tên Xin không rõ lai lịch được 1.000.000 đồng. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, bà Lý Hoa M đã làm đơn trình báo sự việc, Công an huyện T5 đã mời T2 và H làm việc, T2 và H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Công an huyện T5 đã thu hồi số tài sản của T2 và H trộm cắp gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 4 màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen; 82 nhân dân tệ (gồm loại mệnh giá 10 nhân dân tệ 03 tờ, mệnh giá 20 nhân dân tệ 02 tờ, mệnh giá 5 nhân dân tệ 02 tờ, mệnh giá 01 nhân dân tệ 02 tờ); 01 túi lưới màu đen dài khoảng 15cm, chiều rộng khoảng 10cm; 01 điện thoại di động Nokia 105-RM-1134 màu đen; 01 sim vinaphone, 01 sim Viettel, 01 laptop hiệu Asus TP500L; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng. T2 tự nguyện giao nộp 1.800.000 đồng là
tiền H bán laptop hiệu Asus TP500L (tài sản trộm cắp mà có) chia cho T2. Riêng
01 điện thoại di động hiệu Oppo Neo 7 H bán cho người tên Xin không rõ lai lịch,
01 điện thoại di động hiệu Iphone 4 màu đen H cất giấu tại nhà bị mất không thu
hồi được.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐĐG ngày 31/7/2017 và số 47,
48/KL-HĐĐG ngày 19/6/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện
T5, kết luận:
+ 01 máy tính laptop hiệu Asus TP500L: 12.650.000 đồng/chiếc x 80% =
10.120.000 đồng.
+ 01 điện thoại hiệu Iphone 6: 12.500.000 đồng/chiếc x 80% = 10.000.000
đồng.
+ 01 điện thoại Iphone 4: 1.400.000 đồng/chiếc x 65% = 910.000 đồng.
+ 01 điện thoại hiệu Nokia 1280: 245.000 đồng/chiếc x 50% = 122.500 đồng.
+ 01 điện thoại hiệu Nokia 105-RM-1134: 300.000 đồng/chiếc x 50% =
150.000 đồng.
+ 82 đồng nhân dân tệ (CNY): 3.286,13 VND x 82 đồng nhân dân tệ (CNY)
= 269.462,66 đồng (VND), làm tròn 269.463 đồng.
+ Riêng điện thoại di động hiệu Oppo Neo 7 màu đen và 01 điện thoại di động
hiệu Iphone 4 màu đen do tài sản chưa thu hồi được, không rõ cấu hình, thông số kỹ
thuật và không cung cấp được hóa đơn chứng từ mua bán ... nên Hội đồng định giá
không có cơ sở để định giá tài sản.
Tổng giá trị tài sản Nguyễn Thanh T2 và Nguyễn Văn H trộm cắp là
21.571.963 đồng + 20.000 đồng = 21.591.963 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2020/HS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án
nhân dân huyện T5, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân Khu vực M4 – Lâm
Đồng) quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản
1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh T2, tuyên biện
pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Đến ngày 15/4/2025, Tòa án nhân dân huyện T5 (nay là Tòa án nhân dân Khu
vực M4 – Lâm Đồng) có Văn bản số 121/TATP-THAHS kiến nghị xem xét lại Bản
án hình sự sơ thẩm số 88/2020/HS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện
T5, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân Khu vực M4 – Lâm Đồng) theo thủ
tục giám đốc thẩm, vì bị cáo Nguyễn Văn H đã chết vào ngày 18/9/2020 (trước thời
điểm xét xử).
Ngày 19/9/2025, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định
kháng nghị số 01/2025/KN-HS đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2020/HS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện T5, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân Khu vực M4 – Lâm Đồng) về phần trách nhiệm hình sự, biện pháp tư pháp và án phí để đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật đối với Nguyễn Văn H.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm
Đồng đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngày 07/8/2020, Tòa án nhân dân huyện T5 (nay là Tòa án nhân dân Khu
vực M4 – Lâm Đồng) ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2020/QĐXXST-HS ấn định thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 24/8/2020. Tại phiên tòa ngày 24/8/2020, do vắng mặt bị cáo Nguyễn Văn H nên Hội đồng xét xử ra Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2020/HS-ST và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 21/9/2020.
[2] Đến ngày 25/8/2020, bị cáo Nguyễn Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt,
đơn có xác nhận của Công an xã R1, huyện B2, tỉnh Bình Thuận (cũ).
[3] Đến ngày 18/9/2020, bị cáo Nguyễn Văn H chết, theo quy định tại khoản
7 Điều 157, điểm a khoản 1 Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị cáo Nguyễn Văn H. Tuy nhiên, vào ngày 21/9/2020, Tòa án nhân dân huyện T5 (nay là Tòa án nhân dân Khu vực M4 – Lâm Đồng) vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị cáo Nguyễn Văn H tại Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2020/HS-ST ngày 21/9/2020 là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.
[4] Do đó, chấp nhận Quyết định kháng nghị số 01/2025/KN-HS ngày
19/9/2025 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2020/HS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện T5, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân Khu vực M4 – Lâm Đồng) về phần trách nhiệm hình sự, biện pháp tư pháp, án phí và đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật đối với Nguyễn Văn H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 7 Điều 157, điểm a khoản 1 Điều 282, Điều 382, khoản
4 Điều 388, Điều 392 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 01/2025/KN-HS ngày 19/9/2025
của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
2. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2020/HS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa
án nhân dân huyện T5, tỉnh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân Khu vực M4 – Lâm
Đồng) về phần trách nhiệm hình sự, biện pháp tư pháp, án phí và đình chỉ vụ án đã
có hiệu lực pháp luật đối với Nguyễn Văn H.
3. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày
ra quyết định.
| Nơi nhận: - Người TGTT; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - TAND Khu vực M4 - Lâm Đồng; - VKSND Khu vực M4 - Lâm Đồng; - Phòng THADS Khu vực M4 – Lâm Đồng; - PV06, PC10, PC01 (Công an tỉnh Lâm Đồng); - UBND và CA xã B2, tỉnh Lâm Đồng; - Lưu HSVA, P.GĐKT. | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN CHÁNH ÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |