- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Sửa Bản án phúc thẩm số 06/2024/HNGĐ-PT ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình về vụ án “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Đức T với bị đơn là chị Trần Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 337 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 345 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG Quyết định giám đốc thẩm | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2025/HNGĐ-GĐT Ngày: 06-3-2025 V/v Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Cường và ông Nguyễn Tấn Long
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Minh Nhật – Thẩm tra viên Tòa án
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đoàn Ngọc Thanh - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hôn nhân gia đình “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, giữa:
- Nguyên đơn: anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1986.
Địa chỉ thường trú: xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; địa chỉ cư trú: số B D, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình.
- Bị đơn: chị Trần Thị H, sinh năm 1991.
Địa chỉ thường trú: thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; địa chỉ cư trú: Khu tập thể C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Anh Nguyễn Đức T và chị Trần Thị H thuận tình ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số 33/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Về con chung là cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 15/6/2016, các bên thỏa thuận giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Nguyên đơn anh Nguyễn Đức T cho rằng hiện chị H đã kết hôn lần hai và đang sắp đến thời gian sinh nở nên không có đủ thời gian, điều kiện về kinh tế để nuôi dưỡng cháu B phát triển một cách tốt nhất, anh đã thỏa thuận với chị H giao con cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nhưng chị H không đồng ý, vì vậy anh khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Anh T cung cấp Giấy xác nhận của cơ quan thường trú Thông tấn xã Việt Nam tại Quảng Bình về thu nhập và chỗ ở với nội dung: Anh Nguyễn Đức T hiện là phóng viên của Báo Thông tấn xã V thường trú tại Quảng Bình. Về tổng thu nhập hàng tháng gồm tiền lương, tiền công tác phí, nhuận bút, xăng xe, điện thoại... là xx.xxx.xxxx đồng; về chỗ ở: Từ năm 2011 đến nay, anh T tạm trú tại số B D, phường Đ, thành phố Đ, đây cũng là trụ sở làm việc của cơ quan. Để tạo điều kiện cho phóng viên yên tâm công tác, cơ quan đã đồng ý giao cho anh T cùng gia đình (vợ con) sinh sống và làm việc tại tầng 1 của cơ quan với 02 phòng ngủ, 01 phòng khách; phòng bếp, nhà vệ sinh, gara xe với diện tích gần 100m². Anh T cho rằng anh đủ điều kiện nhận nuôi dưỡng cháu Bình A. Việc chị H tự ý xin cho cháu Bình A chuyển từ Trường tiểu học Đ đến học tại Trường tiểu học Đ1 nhưng không bàn bạc, thông báo với anh là thiếu sự tôn trọng anh, chị H trình bày lý do xin chuyển trường là do vợ chồng chị H đang công tác tại phường Đ, thành phố Đ là không đúng sự thật vì hiện nay chị H vẫn là cán bộ của nhà nghỉ dưỡng Hải Đăng, đóng tại xã B, thành phố Đ; anh T nhiều lần xin đón cháu Bình A nhưng chị H từ chối. Theo Quyết định thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Hữu T1 và chị Nguyễn Ngọc P (anh T1 là người chồng hiện tại của chị H) thì anh T1 là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn. Vì vậy, khi chị H sinh thêm con thì chị H và chồng sẽ cùng lúc phải nuôi dưỡng 03 người con nên việc chị H nuôi dưỡng cháu Bình A sẽ gặp nhiều khó khăn. Cháu Bình A cũng đã có giấy viết nguyện vọng có nội dung “Con muốn ở với ba vì ba thương con”.
Về phía bị đơn chị Trần Thị H trình bày hiện tại chị đã kết hôn và cháu Bình A sống chung với vợ chồng chị tại khu nhà tập thể Trại Giam Đ2, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, đảm bảo an ninh, ổn định, có không gian rộng rãi để sinh hoạt và vui chơi. Về điều kiện thu nhập của chị hiện nay là hơn 11.000.000 đồng/tháng. Năm học 2022-2023, cháu Bình A có kết quả học tập xuất sắc, hạnh kiểm tốt, đạt giải viết chữ đẹp của trường, cháu Bình A hiện tại khỏe mạnh, phát triển tốt.
Thời gian đầu, sau ly hôn anh T thực hiện cấp dưỡng nuôi con chung đều đặn nhưng đến tháng 6/2023 thì ngừng việc cấp dưỡng cho đến khi anh T khởi kiện yêu cầu thay đổi nuôi con mới thực hiện cấp dưỡng cho những tháng kể trên. Chị H thừa nhận việc chị đã kết hôn và sắp sinh con. Tuy nhiên, về điều kiện nuôi dưỡng cháu Bình A thì chị cam kết là đảm bảo vì việc nuôi dưỡng các con ngoài chị còn có chồng, mẹ chồng mà mẹ đẻ của chị cùng hỗ trợ chăm sóc các cháu. Chị trình bày việc chị không cho anh T đón con trong một số lần là nhằm đảm bảo lịch học tập cho con, vì đã có lần anh T đón con nhưng không đưa cháu về đúng thời gian như cam kết làm ảnh hưởng đến việc học tập của cháu. Việc chị chuyển trường cho cháu là do điều kiện hiện tại chị và cháu Bình A sống tại khu tập thể của trại giam Đ2, phường Đ, thành phố Đ, nơi chồng chị đang công tác. Để thuận tiện trong việc đưa đón cháu Bình A đi học, chị đã xin chuyển trường cho cháu hơn nửa tháng nay. Hiện tại, cháu Bình A đã thích nghi với môi trường học tập, chỗ ở mới và tỏ ra thoải mái, vui vẻ. Mặc dù, sau ly hôn chị và người chồng hiện tại đều là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng vấn đề này hoàn toàn không ảnh hưởng đến điều kiện nuôi dưỡng cháu Bình A.
Đối với điều kiện hiện tại của anh T là phóng viên báo Thông tấn xã V thường trú tại Quảng Bình. Với đặc thù nghề nghiệp nên sẽ thường phải đi công tác xa, đi giao lưu, tiếp khách vào buổi tối nên sẽ không có điều kiện quan tâm con thường xuyên. Ngoài ra, chị H trình bày anh T có nhiều lần tự ý đón con mà chưa được sự đồng ý của chị gây ảnh hưởng đến lịch học tập và sinh hoạt của cháu. Vì vậy, chị không đồng ý giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.
Tại Đơn trình bày nguyện vọng do cháu Nguyễn Bình A tự viết tại Tòa án vào ngày 25/10/2023 có nội dung “Con tên là Bình A, con 7 tuổi, con học trường Tiểu học Đ1, bây giờ con muốn ở với mẹ, mặc dù con cũng thương ba như ba không dạy học được”.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 41/2023/HNGĐ-ST ngày 30/10/2023, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới quyết định: căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 266, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 81, 82, khoản 2 Điều 83 và Điều 84, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức T đối với chị Trần Thị H về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn”. Giao cho anh Nguyễn Đức T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 15/6/2016. Chị Trần Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh T do anh T không yêu cầu.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí, thông báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 02/11/2023, chị Trần Thị H kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, cháu Nguyễn Bình A có đơn trình bày muốn ở với mẹ.
Tại Bản án phúc thẩm số 06/2024/HNGĐ-PT ngày 05/3/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình tuyên không chấp nhận kháng cáo của chị H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Ngày 28/8/2024, chị Trần Thị H có đơn đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xem xét lại bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm nêu trên.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 09/QĐ-VKS-DS ngày 23/01/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, sửa Bản án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 06/2024/HNGĐ-PT ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, với nhận định:
Quá trình giải quyết vụ án, anh T và chị H không cung cấp Quyết định điều động phóng viên số 1016/QĐ-TTX ngày 12/12/2023 của Thông tấn xã V điều động đối với anh Nguyễn Đức T đến công tác tại cơ quan mới ở Hà Giang từ ngày 01/01/2024. Tại Đơn đề nghị giám đốc thẩm, chị H mới cung cấp Quyết định điều động phóng viên số 1016/QĐ-TTX ngày 12/12/2023. Do anh T phải chuyển đến công tác Hà Giang từ ngày 01/01/2024 nên nếu giao cháu Bình A cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng thì sẽ làm thay đổi môi trường sống của cháu; hơn nữa, cháu A là con gái nên việc sống chung với mẹ sẽ phù hợp hơn về phát triển sinh lý và giới tính; anh T cũng thừa nhận chị H nuôi con không có vi phạm gì, hiện tại cháu B đang phát triển rất tốt, không có vấn đề gì về sức khỏe, tinh thần, học hành; cháu A cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nên việc thay đổi quyền nuôi con là không cần thiết.
* Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Xét điều kiện nuôi con của các bên đương sự thấy rằng:
Về điều kiện nuôi con, căn cứ tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện anh Nguyễn Đức T và chị Trần Thị H đủ điều kiện về nguồn thu nhập để nuôi dưỡng con chung (anh T thu nhập 20 triệu/tháng; chị H có thu nhập 17.292.600 đồng/tháng, tài khoản tiết kiệm 742.606.898 đồng). Từ sau khi anh T, chị H ly hôn (năm 2022 đến nay) cháu Nguyễn Bình A ở với mẹ, cháu được chăm sóc phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, việc học tập của cháu đạt kết quả tốt; cháu Bình A cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, hơn nữa cháu A là con gái nên ở với mẹ có phần thuận lợi hơn trong việc phát triển tâm sinh lý, giới tính; anh T cũng thừa nhận trong quá trình chị H nuôi dưỡng con chung, chị H không có vi phạm gì.
. Theo Quyết định điều động phóng viên số 1016/QĐ-TTX ngày 12/12/2023 của Thông tấn xã V, anh T được điều động đến công tác tại cơ quan mới ở Hà Giang từ ngày 01/01/2024. Do đó, để ổn định cuộc trong sống sinh hoạt, học tập cũng như bảo đảm sự phát triển mọi mặt, xem xét nguyện vọng của cháu Bình A, cần tiếp tục giao con chung là cháu Nguyễn Bình A cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, giao cháu Bình A cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là không thật sự cần thiết, ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt, sự phát triển bình thường của cháu A.
. Do đó, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 09/QĐ-VKS-DS ngày 23/01/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; sửa Bản án phúc thẩm số 06/2024/HNGĐ-PT ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn.
. Tại Thông báo số 244/CCTHADS ngày 12/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới, kết quả thi hành án theo Quyết định thi hành án số 543/QĐ-CCTHSDS ngày 10/4/2024, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới đã thi hành được các khoản: anh Nguyễn Đức T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; chị Trần Thị H phải nộp án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Đã xong và lưu trữ tháng 4/2024.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 337, khoản 5 Điều 343, khoản 2 Điều 345 và Điều 347 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 09/QĐ-VKS-DS ngày 23/01/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
2. Sửa Bản án phúc thẩm số 06/2024/HNGĐ-PT ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình về vụ án “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Đức T với bị đơn là chị Trần Thị H.
Áp dụng Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 81, 82, khoản 2 Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Tuyên xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đức T đối với chị Trần Thị H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
3. Về án phí phúc thẩm: căn cứ Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Trần Thị H không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn trả cho chị Trần Thị H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu số 0001739 ngày 07/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
4. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra Quyết định.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
| GIÁM ĐỐC THẨM Nguyễn Cường Nguyễn Tấn Long | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Cường |