- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Th ly hôn Bạch Thế Tr"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Th, tuyên xử cho chị Bùi Thị Th được ly hôn với anh Bạch Thế Tr.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC – PHÚ TỌ --------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 02/2025/DSST-HNGĐ. Ngày: 26 tháng 08 năm 2025 “V/v Kiện Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC – PHÚ TH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hải Dương.
* Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Sinh; Bà Nguyễn Thị Khánh.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực - Phú Th.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực - Phú Th tham gia phiên toà: Bà: Trần Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 08 năm 2025, tại: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực – Phú Th, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2025/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 05 năm 2025 “về việc kiện ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXX-ST ngày 25 tháng 07 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 08 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Th, sinh năm 1994 - có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Bạch Thế Tr, sinh năm 1990 – vắng mặt không lý do.
Cùng địa chỉ: Khu Ba B, TT Ba Hàng Đ, huyện Lạc Th, tỉnh Hoà B (Nay là Khu Ba B, xã An Ngh, tỉnh Phú Th).
3. Người làm chứng:
+ Bà Phạm Thị O – sinh năm 1979 – vắng mặt.
Trưởng khu Ba B, TT Ba Hàng Đ, huyện Lạc Th, tỉnh Hoà B (nay là khu Ba B, xã An Ngh, tỉnh Phú Th).
+ Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1970 – vắng mặt.
Địa chỉ; khu Ba B, TT Ba Hàng Đ, huyện Lạc Th, tỉnh Hoà B (nay là khu Ba B, xã An Ngh, tỉnh Phú Th).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 05 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị Th, trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân:
Năm 2013 chị Th kết hôn với anh Bạch Thế Tr, do tự nguyện có đăng ký tại UBND xã Mỵ H, huyện Kim B, tỉnh Hoà B. Thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc hoà thuận được được hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do anh Tr nợ nần tiền bạc dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, hay cãi nhau, không còn tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân bế tắc, dẫn đến vợ chồng anh, chị Th, Tr sống ly thân nhiều tháng nay, Thấy rằng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được chị Th làm đơn khởi kiện xin được ly hôn anh Bạch Thế Tr.
- Về con chung: chị Bùi Thị Th anh Bạch Thế Tr có với nhau 02 con chung; con trai lớn là Bạch Duy Th, sinh ngày 10/04/2014 và con gái thứ hai là Bạch Quỳnh A, sinh ngày 04/12/2018. Vợ chồng ly hôn, chị Th xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục hai con cho đến khi trưởng thành.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th chưa yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản và công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị Bùi Thị Th vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là xin được ly hôn với anh Bạch Thế Tr và chị xin được quyền nuôi hai con, chưa yêu cầu anh Trang cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong bản tự khai chị Th trình bày: chị làm nghề tự do, thu nhập hàng tháng là 9.000.000 đồng, đảm bảo được cuộc sống cho ba mẹ con, về nơi ở chị ở nhà bố mẹ đ tại xã An Nghi, tỉnh Phú Th.
Trong biên bản ghi lời khai ông Bùi Văn Đ bố của chị Th cam kết bảo đảm cho Mẹ con chị Th sinh sống cùng gia đình ông.
Bị đơn anh Bạch Thế Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng anh Tr đã không đến Tòa án, do đó Tòa án không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Tr vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương, kết quả xác minh cho thấy: Anh Tr và chị Th có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, sau kết hôn anh chị sống cùng gia đình anh Tr cho đến nay, vào năm cuối năm 2024 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Tr ham chơi dẫn đến nợ nần.
Anh Bạch Thế Tr đang có hộ khẩu và cư trú tại thôn Ba B xã An Ngh, tỉnh Phú Th; Anh Tr thường đi làm ăn xa, thi thoảng có về nhà. Anh Tr biết việc Tòa án đang giải quyết việc chị Th xin ly hôn với anh, biết việc Tòa án niêm yết, tống đạt giấy tờ, văn bản tố tụng cho anh nhưng anh không đến Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Thông qua số điện thoại xxxxxxxxxx do chị Th cung cấp, Toà án đã liên lạc và thông báo cho anh Tr biết việc chị Th có đơn xin ly hôn anh. Quan điểm của anh Tr là anh không về tham gia tố tụng theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án được nên Tòa án không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham giam phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án đến để tham gia phiên toà vi phạm quy định tại các điều 70, 72 BLTTDS, căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS đề nghị Toà án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Thiên.
+ Về con chung: Đề nghị Toà án áp dụng Điều 81,82,83 Luật HNGĐ năm 2014 giao hai cháu Bạch Duy Th, sinh ngày 10/04/2014 và Bạch Quỳnh A, sinh ngày 04/12/2018 cho chị Bùi Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho tới khi cháu Th và Quỳnh A trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Th chưa yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
+ Anh Bạch Thế Tr được quyền thăm hỏi con chung theo quy định của pháp luật.
+ Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Toà án can thiệp nên Toà không đề cập.
+ Về án phí: Chị Bùi Thị Th phải nộp toà bộ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:
[1. ]Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Chị Bùi Thị Th và anh Bạch Thế Tr hiện có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu Ba B, xã An Ngh, tỉnh Phú Th (trước đây là khu Ba B, TT Ba Hàng Đ, huyện Lạc Th, tỉnh Hoà B). Tòa án nhân dân khu vực – Phú Th tiến hành thụ lý và giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Th đã có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Bạch Thế Tr đã được Tòa án triệu tập và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng anh Trang vẫn không có mặt để tham gia tố tụng; Toà án đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất, lần thứ hai tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227; 228 BLTTDS.
[ 2] Về quan hệ tranh chấp: Chị Bùi Thị Th và anh Bạch Thế Tr đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Mỵ H, huyện Kim B, tỉnh Hoà B và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 08/2013 ngày 19 tháng 02 năm 2013. Chị Th khởi kiện xin ly hôn với anh Tr, Tòa án đã thụ lý và xác định quan hệ tranh chấp là: ly hôn là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS.
[3.] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy hôn nhân giữa chị Bùi Thị Th và anh Bạch Thế Tr là hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp và tiến bộ. Sau kết hôn, hai vợ chồng chung sống nhưng không được hòa thuận, thường xuyên sảy ra bất đồng quan điểm, dẫn đến vợ chồng sống ly thân, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình. Chị Th đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bạch Thế Tr và xin được quyền nuôi con chung.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Bùi Thị Th và anh Bạch Thế Tr đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bùi Thị Th.
Về con chung: chị Bùi Thị Th và anh Bạch Thế Tr có 02 con là Bạch Duy Th, sinh ngày 10/04/2014 và Bạch Quỳnh A, sinh ngày 04/12/2018, hiện hai cháu đang được chị Th nuôi dưỡng, Nguyện vọng của hai cháu Th và Quỳnh A là được ở cùng chị Th. Nay chị Thiên yêu cầu tiếp tục được nuôi con và chưa yêu cầu anh Trang cấp dưỡng. Thấy rằng bản thân chị Th có khả năng về kinh tế và nơi ở ổn định, các con ở cùng mẹ sẽ thuận tiện cho việc chăm sóc và học tập, mặt khác các con đều có nguyện vọng được ở với mẹ, xét thấy yêu cầu của chị Th được trực tiếp nuôi dưỡng hai con là phù hợp nên chấp nhận.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
. Về công nợ: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí và quyền kháng cáo
- Án phí ly hôn sơ thẩm: Nguyên đơn chị Bùi Thị Th phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo Điều 271, Điều 273
Bộ luật tố tụng dân sự.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 179; điểm b khoản 2 Điều 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Th, tuyên xử cho chị Bùi Thị Th được ly hôn với anh Bạch Thế Tr.
2. Về con chung: Giao con 02 con là Bạch Duy Th, sinh ngày 10/04/2014 và Bạch Quỳnh A, sinh ngày 04/12/2018 cho chị Bùi Thị Th trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con trưởng thành. Anh Bạch Thế Tr có quyền thăm nom con chung theo quy định pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị Th chưa yêu cầu anh Bạch Thế Tr phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét đề cập.
4. Án phí: chị Bùi Thị Thiên nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu số: 0002099 ngày 26/05/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Th (nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực – Phú Th).
5. Về quyền kháng cáo: chị Bùi Thị Th, anh Bạch Thế Tr có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh PT; - VKSND KV; - THADS tỉnh PT; - UBND n Ngh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. . | (đã ký) Vũ Hải Dương |