vanban.org

Quyết định 02/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Phạm Thị T.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Phạm Thị T (do chị Phạm Thị Trúc L ký) với Công ty T là vô hiệu. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0027674 ngày 23-10-… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Phạm Thị T - Công ty K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Phạm Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 15 Bộ luật lao động và Nghị; Điều 16 Bộ luật lao động và Nghị; Điều 49 Bộ luật lao động và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2024/QĐST-LĐTrảng Bàng, ngày 08 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: ông Đỗ Huy Phong.

- Thư ký phiên họp: ông Huỳnh Tấn Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 06/2023/TLST-VLĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyến bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2024/QĐST-LĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: chị Phạm Thị T, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện H, tỉnh Long An; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty K; địa chỉ: Lô A, đường D, KCN T, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: ông H - Chức vụ: Tổng giám đốc; vắng mặt.

2. Chị Phạm Thị Trúc L, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện H, tỉnh Long An; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội thị xã B, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ: số A, đường B, khu phố L, phường B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: bà T - Chức vụ: Giám đốc; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo người yêu cầu giải quyết việc dân sự chị Phạm Thị T trình bày: do quen biết nên chị T cho chị Phạm Thị Trúc L mượn chứng minh nhân dân để ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty T từ tháng 07-2011 đến tháng 03-2012 và được công ty đóng bảo hiểm xã hội từ 07-2011 đến tháng 03-2012, mã số 7211023809 mang tên Phạm Thị T.

Trong thời gian chị T cho chị L mượn chứng minh nhân dân để đi làm thì chị T cũng làm việc tại Công ty Y và được công ty đóng bảo hiểm xã hội với mã số 7208001229 mang tên Phạm Thị T.

Do bị trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội tại hai công ty khác nhau nhưng dưới một tên là Phạm Thị T và có hai mã số bảo hiểm xã hội nên chị T không lãnh tiền bảo hiểm xã hội được.

Vì vậy chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty T và chị Phạm Thị Trúc L dưới tên Phạm Thị T (do chị L mượn chứng minh nhân dân của chị Trò để ký hợp đồng lao động) là vô hiệu do vi phạm nguyên tắc “trung thực” nhằm mục đích để chị Trò làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm xã hội.

Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty T trình bày: ngày 23-5-2011 Công ty T có ký hợp đồng lao động với chị Phạm Thị T. Đến ngày 31-03-2012, chị T nghỉ việc theo quyết định số 41/04/2012/QĐNV. Về sự việc chị T cho chị L mượn hồ sơ công ty không nắm rõ nên không có ý kiến.

Công ty đồng ý với yêu cầu của chị T về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty T và chị Phạm Thị Trúc L dưới tên Phạm Thị T (do chị L mượn chứng minh nhân dân của chị T để ký hợp đồng lao động) là vô hiệu do vi phạm nguyên tắc “trung thực” nhằm mục đích để chị T làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm xã hội và công ty cũng không có yêu cầu gì trong việc lao động này.

Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Trúc L trình bày: chị L thừa nhận có mượn chứng minh nhân dân của chị T để ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty T từ tháng 07-2011 đến tháng 03-2012. Công ty T đóng bảo hiểm xã hội cho chị L từ 07-2011 đến tháng 03-2012, mã số 7211023809 mang tên Phạm Thị T.

Hiện chị T yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty T và chị Phạm Thị Trúc L dưới tên Phạm Thị T là vô hiệu do vi phạm nguyên tắc “trung thực” nhằm mục đích để chị T làm thủ tục nhận tiền bảo hiểm xã hội thì chị L đồng ý.

Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thị xã B, tỉnh Tây Ninh trình bày: kiến nghị Tòa án Nhân dân thị xã Trảng Bàng xem xét tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Phạm Thị T và Công ty T vô hiệu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết yêu cầu:

- Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng phiên họp từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp: Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét đơn yêu cầu đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc giải quyết việc lao động. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 117, 127 Bộ luật dân sự 2015; Các Điều 15, 16, 49, 50, 51 Bộ luật lao động và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Đề nghị Hội đồng giải quyết việc lao động xem xét quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc lao động tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Phạm Trị T (do chị Phạm Thị Trúc L ký) và Công ty T là vô hiệu.

2. Chị Phạm Thị T phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nhận định:

Về thủ tục tố tụng: người yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thuộc quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện là tại Công ty T; địa chỉ: Lô A, đường D, KCN C, phường A, thị xã B, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng theo điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, Công ty T đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục phiên họp.

Đối với yêu cầu của chị Phạm Thị T đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa Công ty T và chị Phạm Thị T (do chị Phạm Thị Trúc L sử dụng chứng minh nhân dân của chị Phạm Thị T để ký hợp đồng) là vô hiệu:

Xét thấy việc chị L sử dụng thông tin cá nhân của chị T để giao kết hợp đồng lao động với Công ty T là gian dối. Hành vi trên là vi phạm nguyên tắc “Trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật lao động, thuộc trường hợp hợp đồng vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật lao động.

Bảo hiểm xã hội thị xã Trảng Bàng cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của chị Trò từ tháng 7-2011 đến tháng 3-2012, phù hợp với thông tin chị T cung cấp.

Do đó, chị T yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa Công ty T với chị Phạm Thị Trúc L (do chị L mượn chứng minh nhân dân của chị T để ký hợp đồng lao động) là có cơ sở chấp nhận.

Về lệ phí: chị Phạm Thị T phải chịu theo quy định.

Ý kiến và đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 15, 16, 49 của Bộ luật lao động; Điều 149, 367, 401, 402 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Phạm Thị T.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Phạm Thị T (do chị Phạm Thị Trúc L ký) với Công ty T là vô hiệu.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0027674 ngày 23-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Chị Phạm Thị T, chị Phạm Thị Trúc L, Công ty T và Bảo hiểm xã hội thị xã B, tỉnh Tây Ninh có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ