vanban.org

Quyết định 02/2024/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Phàn Phụ N. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10 quyển số 01/2015 ngày 24/3/2015 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu.

Về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật: Anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng kể từ khi quyết định này có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Liều + Chản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Phàn Phụ N. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10 quyển số 01/2015 ngày 24/3/2015 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TAND HUYỆN T
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2024/QĐST-HNGĐT, ngày 15 tháng 01 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Dương Thị Tuyết Thanh.

Thư ký phiên họp: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2023/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc "Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/01/2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phàn Phụ N, sinh năm 1963; Địa chỉ: Bản L, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Phàn Văn L, sinh ngày 15/4/1995; Địa chỉ: Bản L, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

2. Chị Chảo Thị C, sinh ngày 10/11/1996; Địa chỉ: Bản L, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

3. Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Địa chỉ: Bản P, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu.

Đại diện theo pháp Luật: Ông Lê Việt V - Chức vụ: Chủ tịch. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự của người yêu cầu ông Phàn Phụ N trình bày:

Ông có con trai là Phàn Văn L sinh ngày 15/4/1995 đăng ký kết hôn với chị Chảo Thị C sinh ngày 10/11/1996 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu theo giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2015 ngày 24/3/2015. Tại thời điểm đăng ký kết hôn Phàn Văn L mới được 19 tuổi 11 tháng 09 ngày. Khi đi đăng ký kết hôn, anh L biết mình chưa đủ 20 tuổi. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì khi kết hôn nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên. Như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn con trai ông là Phàn Văn L chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Hiện nay, giữa anh L và chị C chung sống không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn, đã sống ly thân từ năm 2022. Vì vậy, ông làm đơn này yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa Phàn Văn L và Chảo Thị C.

Tại biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C đều trình bày: Anh chị kết hôn ngày 24/3/2015 tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu. Khi kết hôn anh chị hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Thời điểm kết hôn anh L được 19 tuổi 11 tháng 09 ngày, còn chị C đã đủ 18 tuổi. Đến nay, ông N đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa hai anh chị thì anh L và chị C đều nhất trí vì lý do anh L và chị C chung sống với nhau không còn hạnh phúc, không còn quan tâm đến nhau, đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Về con chung anh L và chị C có 02 con chung là Phàn Việt C, sinh ngày 02/3/2014 và Phàn Thị Thùy Tr, sinh ngày 14/5/2018. Hiện nay con chung Phàn Việt C đang ở cùng anh L tại nhà ông bà nội, còn con chung Phàn Thị Thùy Tr đang ở cùng chị C tại nhà ông bà ngoại. Anh L có nguyện vọng được nuôi con chung Phàn Việt C và chị C có nguyện vọng được nuôi con chung Phàn Thị Thùy Tr và cả hai vợ chồng đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung anh L và chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu xác định:

Ngày 24 tháng 3 năm 2015 anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C có đến Ủy ban nhân dân xã P để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Do không có các giấy tờ tùy thân nên UBND xã P đã yêu cầu anh L và chị C tự khai và cam đoan về những thông tin đã khai trong bản khai. Theo đó anh L khai bản thân sinh năm 1995 (không ghi ngày tháng sinh) còn chị C khai bản thân sinh năm 1996 (không ghi ngày tháng sinh). Sau khi nhận được bản khai thông tin của anh L và chị C thì UBND xã nhận thấy thông tin đó đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nên đã tiến hành đăng ký kết hôn và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho anh L và chị C theo đúng quy định của pháp luật. Nay ông Phàn Phụ N là bố đẻ của anh Phàn Văn L yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C với lý do là anh Phàn Văn L chưa đủ tuổi để đăng ký kết hôn, tại thời điểm đăng ký kết hôn thì anh L chưa đủ tuổi, chỉ mới 19 tuổi 11 tháng 09 ngày. Uỷ ban nhân dân xã P đã kiểm tra sổ đăng ký khai sinh đối với anh Phàn Văn L và xác định anh Phàn Văn L có đầy đủ ngày tháng năm sinh là 15/4/1995. Tính đến ngày 24/3/2015, ngày anh L đăng ký kết hôn với chị C thì anh L được 19 tuổi 11 tháng 9 ngày, do đó đã vi phạm về độ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy yêu cầu hủy kết hôn của ông Phàn Phụ N là có căn cứ, UBND xã P nhất trí với yêu cầu “Hủy việc kết hôn trái pháp luật” giữa anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên họp, phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm g khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 8; Điều 10; Điều 11; Điều 12, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01 ngày 06/01/2016; điểm d khoản 2 Điều 11, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, đề nghị Tòa an: Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Phàn Phụ N về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C theo giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2015 ngày 24/3/2015 do UBND xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu cấp. Giao con chung Phàn Việt C cho anh Phàn Văn L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Giao con chung Phàn Thị Thùy Tr cho chị Chảo Thị C được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị Chảo Thị C và anh Phàn Văn L đều không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết; Kiến nghị Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch về việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C theo quy định của pháp luật; ông Phàn Phụ N không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu nhận định:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Đây là yêu cầu về hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên họp, ông Phàn Phụ N, anh Phàn Văn L, chị Chảo Thị C, Ủy ban nhân dân xã P đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Tòa án tiến hành mở phiên họp là đúng theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp Luật: Anh Phàn Phụ N, sinh ngày 15/4/1995 và chị Chảo Thị C, sinh ngày 10/11/1996 đăng ký kết hôn ngày 24/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện. Tuy nhiên tại thời điểm đăng ký kết hôn, anh Phàn Văn L mới 19 tuổi 11 tháng 09 ngày nên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đến thời điểm hiện tại, anh L đã đủ tuổi kết hôn nhưng quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không hạn phúc và hiện đang sống ly thân với nhau, anh L và chị C đều nhất trí việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của ông Phàn Phụ N. Căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, cần chấp nhận yêu cầu của ông Phàn Phụ N về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh L và chị C theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2015 ngày 24/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu.

Về hậu quả pháp lý của hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Do việc kết hôn giữa anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C vi phạm điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 là kết hôn trái pháp luật nên kể từ khi quyết định này có hiệu lực pháp luật, anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung: Anh L và chị C có 02 con chung là Phàn Việt C, sinh ngày 02/3/2014 và Phàn Thị Thùy Tr, sinh ngày 14/5/2018. Hiện nay con chung Phàn Việt C đang ở cùng anh L tại nhà ông bà nội, còn con chung Phàn Thị Thùy Tr đang ở cùng chị C tại nhà ông bà ngoại. Anh L có nguyện vọng được nuôi con chung Phan Việt C và chị C có nguyện vọng được nuôi con Phàn Thị Thùy Tr và đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Xét nguyện vọng của anh L và chị N về nuôi con chung là có căn cứ, phù hợp với điều kiện thực tế của hai bên và phù hợp với nguyện vọng của con chung Phàn Việt C và con chung Phàn Thị Thùy Tr còn nhỏ, cần sự chăm sóc của chị C. Do vậy, cần giao con chung Phàn Việt C cho anh L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung Phàn Việt C trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động và giao con chung Phàn Thị Thùy Tr cho chị C là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung Phàn Thị Thùy Tr trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con anh L và chị C đều không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về kiến nghị: Kiến nghị Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu thực hiện việc ghi chú vào sổ hộ tịch về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C theo quy định của pháp luật.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm đ khoản Điều 11, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTVH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì người yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Phàn Phụ N không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.

Về quyền kháng cáo, quyền kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 361; Điều 362; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 8; Điều 10; Điều 11; Điều 12; Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình; điểm d khoản 2 Điều 11, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Phàn Phụ N. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10 quyển số 01/2015 ngày 24/3/2015 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu.

2. Về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật:

- Anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng kể từ khi quyết định này có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C có 02 con chung là Phàn Việt C, sinh ngày 02/3/2014 và Phàn Thị Thùy Tr, sinh ngày 14/5/2018.

Giao con chung Phàn Việt C, sinh ngày 02/3/2014 cho anh Phàn Văn L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung Phàn Việt C trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Giao con chung Phàn Thị Thùy Tr, sinh ngày 14/5/2018 cho chị Chảo Thị C là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung Phàn Thị Thùy Tr trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

3. Kiến nghị Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu thực hiện ghi chú vào sổ hộ tịch về việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Phàn Văn L và chị Chảo Thị C theo quy định của pháp luật.

4. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Phàn Phụ N không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ