vanban.org

Quyết định 02/2024/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Cao Lĩnh và bà Cao Thị Hồng Nhung thuận tình ly hôn.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về hôn nhân: Ông Cao L và bà Cao Thị Hồng Nh thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa ông Cao L với bà Cao Thị Hồng Nh"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Cao Lĩnh và bà Cao Thị Hồng Nhung thuận tình ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KHÁNH VĨNH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2024/QĐST-HNGĐKhánh Vĩnh, ngày 12 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 08/2024/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2023, giữa:

Nguyên đơn: Ông Cao L, sinh năm 1982; cư trú tại: Thôn Nước Nhĩ, xã Khánh Phú, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.

Bị đơn: Bà Cao Thị Hồng Nh, sinh năm 1986; cư trú tại: Thôn Nước Nhĩ, xã Khánh Phú, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 55, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 và Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 04 tháng 3 năm 2024.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 04 tháng 3 năm 2024 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Ông Cao Lĩnh và bà Cao Thị Hồng Nhung thuận tình ly hôn.

2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Ông Cao L và bà Cao Thị Hồng Nh thuận tình ly hôn.

Về con chung: Giao bà Cao Thị Hồng Nh trực tiếp, trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Cao Thị Quế L, sinh ngày 28/5/2010 cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận bà Nh không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Đối với cháu Cao Xuân Ph, sinh ngày 14/3/2005 đã trên 18 tuổi tự nuôi sống được bản thân nên ông L, bà Nh thống nhất không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Cao L và bà Cao Thị Hồng Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Ông Cao L tự nguyện chịu 75.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm Hôn nhân gia đình ly hôn, tự nguyện chịu thay bà Cao Thị Hồng Nh 75.000 đồng tiền án phí sơ thẩm Hôn nhân gia đình ly hôn; tổng cộng ông Cao L phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm Hôn nhân gia đình về ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tại biên lai thu số 0008510 ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa. Ông Cao L được trả lại 150.000 đồng chênh lệch.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ