- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu của bà Trái tuyên bố hạn chế"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu bà Đào Thị T: Tuyên bố ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2024/QĐST-DS | An Dương, ngày 22 tháng 02 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Liên
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 74/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đào Thị T, sinh năm 1968; Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện A, T.P Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 30/8/2023 và trong quá trình tố tụng, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là bà Đào Thị T trình bày:
Năm 1994 bà kết hôn với ông Nguyễn Hải Đ do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Lê Lợi, huyện An Hải (nay là huyện An Dương), thành phố Hải Phòng và có ba con chung. Sau khi kết hôn bà và ông Đ chung sống tại gia đình ông Đ ở xã L, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Ông Đ là người khỏe mạnh bình thường và chịu khó giúp đỡ gia đình. Đến khoảng năm 2002, ông Đ có biểu hiện nói nhảm không rõ nội dung gì, đánh đập vợ, đập phá đồ đạc trong nhà, sau đó ông Đ còn uống rượu nhiều. Bệnh tình của ông Đ ngày một nặng nên năm 2007 gia đình bà đã đưa ông Đ đến Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng để khám và điều trị một thời gian, do điều kiện gia đình khó khăn nên gia đình bà xin cho ông Đ về nhà điều trị. Từ năm 2007 đến nay bệnh tình của ông Đồng ngày một nặng, ông Đ thường xuyên bỏ nhà đi lang thang, nói lảm nhảm một mình, thường xuyên tìm đồ ăn trong đống rác ở nhà và ở đường để ăn, việc sinh hoạt cá nhân không tự thực hiện được phải có sự giúp đỡ của gia đình. Do ông Đ có biểu hiện bệnh tâm thần nên bà làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện An Dương tuyên bố ông Nguyễn Hải Đ là người mất năng lực hành vi dân sự để thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến quyền và nghĩa vụ của ông Đ.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/02/2024, bà thay đổi yêu cầu, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Hải Đ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi vì theo Kết luận giám định sức khỏe tâm thần theo yêu cầu số 25/KLGĐ ngày 31/01/2024 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương thì ông Nguyễn Hải Đ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định về thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc. Người yêu cầu đã chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ việc.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, các điều 143, 149, 376, 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 23 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của bà Đào Thị T, tuyên bố ông Nguyễn Hải Đ là có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Về lệ phí: Bà Đào Thị T phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ việc: Ông Nguyễn Hải Đ là người bị yêu cầu tuyên bố có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú tại xã L, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng nên căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Về việc vắng mặt của người yêu cầu: Tại phiên họp, người yêu cầu bà Đào Thị T và có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt bà Đào Thị T.
Xét yêu cầu của người yêu cầu: Từ năm 2002 ông Nguyễn Hải Đ bắt đầu có biểu hiện không bình thường như cười, nói một mình, đập phá đồ đạc, đánh người vô cớ, bỏ nhà đi lang thang, nhặt đồ ăn trong đống rác. Căn cứ Kết luận giám định sức khỏe tâm thần theo yêu cầu số 25/KLGĐ ngày 31/01/2024 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương đối với ông Nguyễn Hải Đ, kết luận: Ông Nguyễn Hải Đ bị bệnh rối loạn nhân cách và hành vi di chứng, khởi phát muộn do sử dụng rượu. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F10.71; Đối tượng là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Vì vậy, bà Đào Thị T thay đổi yêu cầu và yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Hải Đ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Bộ luật Dân sự.
[4] Về việc giám hộ của ông Nguyễn Hải Đ: Ông Nguyễn Hải Đ có vợ là bà Đào Thị T, hiện tại bà T là người trực tiếp chăm sóc ông Đ hàng ngày nên bà T có đủ điều kiện làm người giám hộ theo quy định tại khoản 1 Điều 53, khoản 4 Điều 54 Bộ luật dân sự, do vậy Tòa án chỉ định bà Đào Thị T là người giám hộ cho ông Nguyễn Hải Đ.
Về quyền và nghĩa vụ của người giám hộ: Người giám hộ được Tòa án chỉ định có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 57 và Điều 58 của Bộ luật dân sự.
Về lệ phí: Bà Đào Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, các điều 143, 149, 376, 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 46, Điều 48, Điều 49, khoản 4 Điều 54; Điều 57, Điều 58, Điều 59 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
1. Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu bà Đào Thị T: Tuyên bố ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chỉ định bà Đào Thị T là người giám hộ của ông Nguyễn Hải Đ.
2. Bà Đào Thị T có các nghĩa vụ của người giám hộ như sau:
- Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ.
- Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;
- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
3. Bà Đào Thị T có các quyền của người giám hộ như sau:
- Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ.
- Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
4. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Đào Thị T phải chịu 300.000đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự để nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiềm tạm ứng lệ phí 300.000đồng bà Đào Thị T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004511 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện An Dương; - Chi cục THADS huyện An Dương; - TAND thành phố Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Liên |